ASEAN: Lý do HSBC "gọi tên" Malaysia, Việt Nam và Singapore vào TOP nền kinh tế tăng trưởng vượt trội năm 2026

+ aA -
PVKT
26/01/2026 15:02 GMT +7
Theo HSBC, sự bứt phá của Malaysia, Việt Nam và Singapore không đơn thuần đến từ đảm bảo lợi ích thương mại lan tỏa sang nền kinh tế trong nước. Điểm khác biệt nằm ở động lực tài khóa cũng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng.

Bộ phận Nghiên cứu Đầu tư Toàn cầu HSBC đã phát hành báo cáo ASEAN Perspectives - Năm 2026: Thử thách sức bền, sức mạnh và bản lĩnh.

Theo HSBC nhận định chung, 2026 sẽ là lúc để thử thách sức bền và sức mạnh – một bài kiểm tra mà các nền kinh tế ASEAN sẽ có khả năng vượt qua nhưng kết quả mỗi nước mỗi khác.

Thương mại ASEAN sẽ trụ vững

2025 dường như là một nghịch lý đối với ASEAN. Mặc dù thuế quan còn nhiều ồn ào và sự bất định phủ bóng suốt năm qua, thương mại vẫn bền bỉ, không chỉ ở Đông Nam Á mà trên toàn châu Á và thế giới. Riêng ở ASEAN, xuất khẩu tăng trưởng với tốc độ đáng ngạc nhiên khoảng 12% so với cùng kỳ năm trước từ tháng 1 tới tháng 11 năm 2025.

Việc đẩy nhanh đơn hàng đặt trước do lo ngại vấn đề thuế quan là một trong những nguyên nhân chính khiến nghịch lý này bớt mâu thuẫn. Tuy nhiên, như nhà Kinh tế trưởng Toàn cầu của HSBC, Janet Henry, đã từng nhiều lần nhận định, thương mại chủ yếu được hỗ trợ bởi ngành Trí tuệ Nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) đang nở rộ. Sự phát triển này không chỉ làm gia tăng nhu cầu về phần cứng, phần mềm và dịch vụ liên quan đến AI mà cả tài sản tạo ra nhờ nắm giữ cổ phiếu AI qua đó hỗ trợ thúc đẩy chi tiêu của người tiêu dùng ở Mỹ.

Giờ đây, năm 2026 đã đến. Liệu nghịch lý này có còn tiếp tục duy trì đối với Đông Nam Á? Sự bất định quả thật đã giảm bớt khi Mỹ bắt đầu “ngấm đòn” thuế quan do chính nước này khởi xướng. Sự sụt giảm nhu cầu đẩy nhanh đơn hàng đặt trước cuối cùng cũng bắt đầu hiển hiện. Và ASEAN không hẳn vô sự trước tác động này bởi xuất khẩu từ ASEAN sang Mỹ đã bắt đầu giảm nhẹ sau đợt tăng vọt trong nửa đầu năm 2025.

Tuy nhiên, chúng tôi vẫn tin rằng thương mại ở ASEAN sẽ duy trì bền bỉ ngay cả sau kết quả đầy ấn tượng trong năm 2025 và sự sụt giảm của nhu cầu đẩy nhanh đơn hàng đặt trước. Tăng trưởng thương mại có thể không nhanh như năm 2025 nhưng vẫn đủ ấn tượng để thu hút sự chú ý.

Trong bối cảnh thương mại gia tăng, ASEAN chứng kiến thị phần xuất khẩu toàn cầu tăng 2 điểm phần trăm: từ khoảng 7,4% trong năm 2023 lên khoảng 9,4% trong năm 2025, là minh chứng cho thấy kết quả vượt trội về thương mại của ASEAN không hoàn toàn nhờ nhu cầu đẩy nhanh đơn hàng đặt trước. Nếu vì nguyên nhân đó thì thương mại toàn cầu đã phải tăng đều giúp thị phần xuất khẩu tương đối ổn định. Do vậy, sự gia tăng thị phần của ASEAN sẽ hạn chế tác động đối bất kể mức độ chậm lại của thương mại.

Nếu đào sâu hơn vào các dữ kiện chi tiết, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về “miếng bánh” thương mại toàn cầu lớn hơn này.

Biểu đồ 3 cũng cho thấy sự gia tăng thị phần xuất khẩu toàn cầu của ASEAN không tương xứng với sự gia tăng thị phần nhập khẩu toàn cầu của khu vực này. Mặc dù có thể ám chỉ rằng giá hàng hóa trên toàn cầu đã ổn định (chẳng hạn như dầu mỏ), sự không tương xứng này cũng có thể đơn thuần phản ánh động thái đa dạng hóa chuỗi cung ứng sang ASEAN, hơn là hàng hóa chuyển tải (transshipments).

Thêm nữa, sự bùng nổ xuất khẩu của ASEAN cũng khá đa dạng xét về điểm đến của xuất khẩu. Câu trả lời là tất cả các hành lang, ngoại từ Trung Quốc đại lục. Xuất khẩu từ Đông Nam Á sang Mỹ, Ấn Độ, Mexico, nội khối ASEAN và đến các nước khác trên thế giới đang chiếm một phần lớn trong xuất khẩu toàn cầu – một minh chứng cho tầm quan trọng ngày càng gia tăng của ASEAN trong thương mại.

Bối cảnh và chính sách toàn cầu nhiều khả năng sẽ càng củng cố vị thế này của ASEAN, đồng thời gia tăng sự bền bỉ của Đông Nam Á trước bất kỳ tình huống sụt giảm nhu cầu đẩy nhanh đơn hàng đặt trước nào.

Ít nhất thì ASEAN vẫn tiếp tục là “nơi trú ẩn” giữa những ồn ào thuế quan. Lợi thế về thuế quan của ASEAN so với Trung Quốc (và giờ là cả Ấn Độ) trong một số lĩnh vực nhất định không chỉ gia tăng thị phần của ASEAN ở Mỹ mà còn tiếp tục thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực này, bao gồm chính những nhà đầu tư Trung Quốc. Trên thực tế, dữ liệu cán cân thanh toán cho thấy đầu tư trực tiếp ròng vào khu vực này tiếp tục gia tăng cho dù với tốc độ có chậm lại so với năm 2024.

Mặc dù vậy, nhu cầu tương lai, mặc dù gần đây đã suy giảm trên toàn cầu, vẫn đang mạnh mẽ ở ASEAN. Năm trên sáu nền kinh tế ASEAN có chỉ số đơn hàng xuất khẩu mới PMI trong quý cuối năm 2025 cao trên mức bình quân trong quá khứ, ngược lại với tình hình ở Trung Quốc đại lục và các nền kinh tế đã phát triển như Mỹ, Anh và Nhật Bản.

Thương mại có khả năng sẽ trở thành một lực cản trong năm 2026 bởi hoạt động đẩy nhanh đơn hàng đặt trước sẽ sụt giảm. Tuy nhiên, từ chỗ chỉ là một chú ngựa ô, ASEAN sẽ cho thấy tầm vóc của khu vực này trên trường quốc tế về thương mại khi bền bỉ vượt qua các thử thách thương mại phía trước.

Tăng trưởng nội địa đa dạng

Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng sẽ khá đa dạng trên toàn khu vực này. Sự đa dạng này không phải do thương mại, xuất khẩu trên toàn khu vực nhiều khả năng sẽ đạt kết quả tốt. Xét về mặt nào đó, sự đa dạng này được thúc đẩy bởi mức độ chuyển hóa kết quả thương mại sang đầu tư và tiêu dùng, cũng như chính sách hỗ trợ nội lực của từng nền kinh tế.

HSBC muốn nêu bật ba nền kinh tế trong ASEAN sẽ có khả năng tăng trưởng vượt trội phù hợp với tiềm năng hoặc hơn trong năm 2026. Đó chính là Malaysia, Việt Nam và Singapore. Họ không chỉ thành công trong việc đảm bảo lợi ích của thương mại lan tỏa sang nền kinh tế trong nước mà động lực tài khóa cũng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng.

Ngược lại, HSBC kỳ vọng tăng trưởng sẽ kém so với kỳ vọng ở Philippines, Thái Lan và Indonesia nơi cuối cùng sẽ cần sự can thiệp của chính sách tiền tệ.

Hiệu ứng lan tỏa thương mại

Hiệu ứng lan tỏa từ thương mại có thể được đánh giá bằng tình hình thị trường việc làm và mức lương tăng lên ra sao. Và ngay tức thì, dữ liệu cho thấy mức lương ở những nền kinh tế phụ thuộc thương mại hơn như Singapore, Malaysia và Việt Nam tăng nhanh hơn mức lương ở Thái Lan và Indonesia trong năm 2025. Philippines chứng kiến mức lương bình quân tăng nhanh thứ nhì trong năm này nhưng đây là một trường hợp đặc biệt chúng ta sẽ nhắc tới sau.

Với mức lương cao hơn, doanh thu bán lẻ ở Việt Nam tính đến tháng 11 năm 2025 đã tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Lòng tin vào nền kinh tế cũng duy trì với tăng trưởng tín dụng cuối năm 2025 vẫn trên đà gia tăng. Ngược lại, tăng trưởng mức lương của Indonesia có tốc độ chậm nhất. Các chỉ số khác như tâm lý người tiêu dùng và đăng ký phương tiện giao thông cũng đều cho thấy nhu cầu suy yếu. Mặc dù Indonesia đã giành thị phần xuất khẩu toàn cầu, kết quả thương mại vượt trội đã không chuyển hóa thành nhu cầu nội địa mạnh hơn bởi khoảng một nửa khối lượng xuất khẩu là hàng hóa gắn liền với các ngành có liên kết phía sau hạn chế (phụ thuộc nhập khẩu đầu vào).

Malaysia và Thái Lan là một trường hợp so sánh thú vị. Cả hai nền kinh tế đều có vị thế tốt nhất ở Đông Nam Á để bắt theo xu hướng AI. Cả hai đều có lợi thế về thuế quan so với Trung Quốc. Tuy nhiên, hai quốc già này lại có kết quả khác nhau bởi quan hệ của họ với chuỗi cung ứng Trung Quốc, đặc biệt là việc Trung Quốc cung ứng quá nhiều hàng hóa sản xuất.

Sự tập trung của Malaysia vào ngành điện tử và mối quan hệ tương hỗ với chuỗi cung ứng của Trung Quốc đại lục đã giúp tăng hiệu quả và lợi nhuận cho các nhà sản xuất trong nước, họ có thể nhập khẩu nguyên liệu đầu vào rẻ hơn từ Trung Quốc, lắp ráp và rồi xuất hàng đi nước ngoài với giá cạnh tranh. Tâm lý doanh nghiệp ở đây vẫn rất vững vàng, nếu không muốn nói là đang tốt thêm.

Mặt khác, một lượng lớn doanh nghiệp sản xuất của Thái Lan lại cạnh tranh trực tiếp với Trung Quốc, chẳng hạn như trong lĩnh vực ô tô và linh kiện. Trong bối cảnh các nhà sản xuất Trung Quốc bán hàng ở ASEAN với giá rất cạnh tranh, doanh nghiệp sản xuất ở Thái Lan rơi vào thế khó cạnh tranh. Do đó, Thái Lan là quốc gia duy nhất trong khu vực có tỷ lệ công suất hiệu dụng của các ngành suy giảm (Biểu đồ 12).

Tương tự, tâm lý doanh nghiệp ở Thái Lan đang khá đa dạng. Biểu đồ 13 cho thấy các ngành quy mô lớn tiếp tục có tâm lý tích cực còn tâm lý nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp tục xấu đi. Nguyên nhân có thể là do các doanh nghiệp lớn đang tận dụng xu hướng AI còn doanh nghiệp nhỏ hơn phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu Trung Quốc. Điều không may là khoảng 70% dân số Thái Lan đang làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do vậy cũng ảnh hưởng tới tiêu dùng.

Philippines lại là một trường hợp thú vị. Lĩnh vực BPO (Business Process Outsourcing – gia công quy trình kinh doanh) đã tận dụng lợi thế của AI thông qua cung cấp dịch vụ dán nhãn và chú thích(dán nhãn?) dữ liệu cho chuỗi cung ứng AI.

Tuy nhiên, ở đây, mức lương gia tăng không chuyển hóa thành tiêu dùng mạnh mẽ. Nguyên nhân là các hộ gia đình rốt cuộc đã bắt đầu tiết kiệm (Biểu đồ 14). Sau ba năm lạm phát cao làm xói mòn sức mua của hộ gia đình Philippines, các hộ gia đình có xu hướng sử dụng mức lương cao hơn để khôi phục các khoản tiết kiệm. Sự đi xuống gần đây trong tâm lý người tiêu dùng và doanh nghiệp, do chính phủ tiến hành một cuộc điều tra tham nhũng lớn, cũng sẽ dẫn đến tỷ lệ tiết kiệm cao hơn. Người tiêu dùng và doanh nghiệp có khả năng sẽ tìm cách bảo vệ bản thân trước những bất định kinh tế trong nước trong năm 2026 bằng cách để dành một phần lớn thu nhập của họ.

Trên thực tế, nghiên cứu tỷ lệ tiết kiệm của từng nước trong khu vực cho chúng ta một góc nhìn thú vị. Biểu đồ 15 cho thấy tỷ lệ tiết kiệm quốc gia của Philippines đang trên đà tăng mặc dù Ngân hàng Trung ương Philippines (Bangko Sentral ng Pilipinas – BSP) đã nới lỏng chính sách tiền tệ từ tháng 10/2024.

Tỷ lệ tiết kiệm quốc gia của Thái Lan cũng đang trên đà tăng bởi nước này đang trải qua chu kỳ tháo gỡ đòn bẩy để trả mức nợ hộ gia đình cao. Mặt khác, tỷ lệ tiết kiệm ở Malaysia đang trên đà giảm xuống, cho thấy mức độ tích cực của tâm lý người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Sức mạnh tài khóa

Sức mạnh tài khóa của mỗi nền kinh tế nhiều khả năng sẽ đóng vai trò quan trọng nhất trong việc lý giải sự đa dạng trong tăng trưởng của ASEAN.

Bảng dưới đây liệt kê mục tiêu tài khóa cho năm 2026 của mỗi nền kinh tế so với xu hướng trước đây nhằm giúp chúng ta hình dung mức độ mở rộng của chính sách tài khóa. Cũng trong bảng này, HSBC đánh giá mức độ tin tưởng vào khả năng từng nền kinh tế đạt được mục tiêu tài khóa cũng như đánh giá tốc độ thực hiện.

Tóm lược đánh giá xung lực tài khóa của từng nền kinh tế ASEAN trong năm 2026.

Mặc dù vậy, tất cả các nền kinh tế đều có kế hoạch giữ cho động lực tài khóa của mình vận hành trơn tru. Điều này hết sức quan trọng nếu nhu cầu đẩy nhanh đơn hàng đặt trước sụt giảm bởi không phải nước nào cũng hưởng lợi từ nhu cầu AI mạnh mẽ.

Chúng tôi có cái nhìn tích cực khi nhắc đến việc Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Singapore phô trương sức mạnh tài khóa ấn tượng trong năm 2026

Với tỷ lệ nợ công trên GDP thấp, Việt Nam và Indonesia đang tập dượt để bồi đắp sức mạnh tài khóa trong năm 2026, tích lũy thâm hụt tài khóa vượt mức bình quân trước đại dịch. Việt Nam sẵn sàng thúc đẩy chi tiêu cho hạ tầng bởi Việt Nam đang triển khai kế hoạch cải tổ rộng khắp với mục tiêu tỷ lệ thâm hụt tài khóa trên GDP nhỉnh hơn mức khoảng 4,1% trước đại dịch.

Trong khi đó, Indonesia, cũng tương tự năm 2025 (Biểu đồ 16) lại tìm cách gia tăng đòn bẩy tài khóa, hướng đến mục tiêu tích lũy một mức thâm hụt tài khóa gần chạm ngưỡng giới hạn thâm hụt tài khóa cho phép là 3% GDP. Đây là nguồn tài trợ cho các dự án trọng điểm của nhà nước như chương trình cung cấp bữa ăn miễn phí và thúc đẩy hạ tầng. Nhằm đảm bảo thực thi, các nhà làm chính sách trao trách nhiệm thu hút đầu tư và đẩy nhanh hạ tầng cho quỹ Danantara. Tuy nhiên, các bên tham gia thị trường sẽ giám sát hiệu quả của chương trình bữa ăn miễn phí trong việc thúc đẩy tiêu dùng và liệu quỹ Danantara có phải đòn bẩy hiệu quả để thu hút đầu tư từ khối tư nhân.

Tương tự, sau khi tích lũy thặng dư tài khóa khoảng 1,9% GDP trong năm ngoái, Singapore đã có nguồn lực tài khóa cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng nếu kinh tế mất đà.

Một lần nữa, Malaysia và Thái Lan lại cho thấy một trường hợp so sánh thú vị. Cả hai nền kinh tế đều đang dần giảm chi tiêu tài khóa thông qua mục tiêu giảm tỷ lệ thâm hụt tài khóa trên GDP so với năm trước nhưng mức thâm hụt vẫn trên mức trước đại dịch. Nguyên là do cả hai nền kinh tế đều không có dư địa tài khóa để thúc đẩy tăng trưởng. Các nhà làm chính sách ở Malaysia đang từ từ đưa tỷ lệ nợ công trên GDP giảm xuống trong khi, dựa trên ước tính của chúng tôi, cán cân sơ cấp của Thái Lan sẽ cần tỷ lệ nợ trên GDP dương mới có thể ổn định (Biểu đồ 17).

Tuy nhiên, cả hai nền kinh tế sẽ có kết quả khác nhau. Malaysia đang hợp lý hóa các khoản trợ cấp (bằng cách áp dụng theo nhóm đối tượng mục tiêu) nhưng vẫn tiếp tục tập trung vào đầu tư công. Điều đó đã giúp thu hút đầu tư từ khối tư trong năm 2025, dẫn đến kết quả tăng trưởng rõ rệt (Biểu đồ 18). Mặt khác, Thái Lan tiếp tục chú trọng vào thúc đẩy tiêu dùng thông qua các gói trợ cấp như phát tiền và kiểm soát giá. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng các chương trình trợ cấp năm ngoái đã không hiệu quả trong hỗ trợ tiêu dùng do nợ hộ gia đình cao.

Cuối cùng là Philippines, quốc gia này sẽ chứng kiến sức mạnh tài khóa tạm ngưng một thời gian dài trong khi họ tiến hành một cuộc điều tra tham nhũng quy mô lớn. Mặc dù chính phủ nước này dự kiến thâm hụt tài khóa ở mức 5,2% GDP, lịch sử đã chứng minh chi tiêu thường chậm lại trong vài năm mỗi khi nhà nước trải qua cải cách về thể chế, chẳng hạn như năm 2013 khi các cáo buộc tham nhũng dẫn tới năm năm chi tiêu không đạt mục tiêu. Chúng tôi kỳ vọng thâm hụt tài khóa của nền kinh tế này sẽ thu hẹp xuống còn 3,8% GDP trong năm 2026 – trở thành yếu tố thuận lợi lớn nhất cho tăng trưởng. Điều đó cũng có thể được ngầm hiểu là tỷ lệ nợ công trên GDP sẽ có thể giảm xuống 60,6% trong năm 2026 từ mức khoảng 64% của năm 2025.