Chiến lược phát triển ngành sữa: Hình thành các "đế chế", tăng trưởng thần tốc 14%/năm

Hoàn thiện chuỗi giá trị, tăng tự chủ nguyên liệu
Theo Quyết định 309/QĐ-TTg, mục tiêu cốt lõi đặt ra là phát triển ngành sữa bền vững trên nền tảng chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ chăn nuôi bò sữa, sản xuất nguyên liệu đến chế biến và phân phối sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Ngành sẽ cơ bản đáp ứng nhu cầu trong nước, đồng thời tham gia sâu hơn vào mạng lưới cung ứng khu vực và toàn cầu.
Giai đoạn đến năm 2030, ngành đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân 12 - 14%/năm; sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 4,2 tỷ lít, sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt 2,6 tỷ lít, đáp ứng 60 - 65% nhu cầu chế biến. Mức tiêu thụ bình quân phấn đấu đạt 40 lít/người/năm.
Đến năm 2035, tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm khoảng 10 -12%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 6,2 tỷ lít/năm, sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 4,5 tỷ lít/năm. Tỷ lệ tự chủ nguyên liệu tiếp tục tăng lên 70 - 75%. Sữa bột tăng trưởng khoảng 5 - 6% năm, với sản lượng đạt khoảng 310 nghìn tấn/năm.
Tầm nhìn 2045, tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm từ 5 - 6%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 9,7 tỷ lít/năm, sản lượng sữa tươi trong nước đạt khoảng 8 tỷ lít, đáp ứng 80 - 85% nhu cầu, góp phần giảm phụ thuộc nhập khẩu nguyên liệu. Sữa bột tăng trưởng khoảng 3 - 4% năm, sản lượng sữa bột đạt khoảng 415 nghìn tấn/năm. Mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 100 lít/người/năm.

Chiến lược cũng nêu rõ định hướng xây dựng chuỗi chăn nuôi bò sữa bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế.
Từng bước nâng cao số lượng bò sữa trong nước nhằm tận dụng tối đa lợi thế đất nước nông nghiệp, tăng sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu chế biến trong nước nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nhập khẩu sản phẩm sữa và nguyên liệu chế biến sữa.
Phát triển đàn bò sữa theo hướng trang trại bò sữa tập trung kết hợp nông hộ, hợp tác xã, gắn với tiêu chuẩn an toàn dịch bệnh và an toàn thực phẩm quốc tế. Song song, ngành ưu tiên phát triển giống bò năng suất cao, phù hợp điều kiện từng vùng, nhằm nâng nhanh sản lượng và chất lượng sữa tươi.
Đồng thời, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong toàn chuỗi, quản lý đàn bò bằng AI, blockchain truy xuất nguồn gốc, tự động hóa dây chuyền chế biến, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải. Mô hình sản xuất tuần hoàn, thân thiện môi trường được đặt thành yêu cầu bắt buộc đối với các nhà máy chế biến.
Đẩy mạnh phát triển sản phẩm giá trị cao, hình thành các tập đoàn lớn
Chiến lược cũng nhấn mạnh đa dạng hóa sản phẩm, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu thị trường kết hợp với nghiên cứu sản xuất chế phẩm, phụ gia, hương liệu phục vụ ngành sữa hướng đến việc phát triển các sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu tiêu dùng và theo kịp xu hướng tiêu dùng sữa và sản phẩm chế biến sữa trên thế giới.
Đẩy mạnh phát triển các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao; sữa và chế phẩm từ sữa, sữa công thức dành cho các đối tượng theo vòng đời như trẻ em, người cao tuổi, sữa dành cho người có nhu cầu chuyên biệt; đối với sữa học đường chỉ sử dụng nguồn sữa tươi, bảo đảm tiếp cận sữa tươi cho các vùng khó khăn, trẻ em nghèo, học sinh dân tộc thiểu số.
Thúc đẩy khoa học, đổi mới sáng tạo, đầu tư ứng dụng các dây chuyền sản xuất tự động hóa thế hệ mới có mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu thấp, hiệu suất cao, thân thiện với môi trường. Đồng thời ưu tiên thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong toàn bộ chuỗi giá trị, bao gồm: phát triển giống bò sữa năng suất cao, chất lượng sữa tốt phù hợp với thổ nhưỡng các vùng miền đất nước nhằm tăng nhanh sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu, nâng cao công nghệ chế biến, bảo quản, phân phối sản phẩm.
Đối với doanh nghiệp, tiếp tục mở rộng quy mô đàn bò sữa, tăng sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu, nâng cao công suất chế biến thông qua việc nâng cấp các dự án hiện có, ứng dụng công nghệ hiện đại, thiết bị dây chuyền tự động hóa ở mức cao, ưu tiên đầu tư phát triển các dự án hoàn chỉnh theo chuỗi giá trị từ chăn nuôi bò lấy sữa đến các sản phẩm sữa chế biến, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm, tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong toàn bộ quy trình sản xuất và phân phối sản phẩm.
Tái cơ cấu tổ chức, đổi mới mô hình quản trị, hướng tới hình thành các tập đoàn, tổng công ty có quy mô lớn trong lĩnh vực sản xuất sữa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo vị thế xếp hạng cao trong khu vực và trên thế giới, từng bước khẳng định vai trò và vị thế của ngành sữa Việt Nam trong chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng sữa toàn cầu.
Thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp sản xuất sữa tươi nguyên liệu theo hướng bền vững với quy mô hợp lý, chất lượng giống đàn bò được cải thiện, dần chủ động được giống bò sữa trong nước cho năng suất sữa cao.
Từng bước ổn định và gia tăng nguồn cung nguyên liệu sữa phục vụ chế biến.
Đồng thời phát triển mối liên kết chặt chẽ, hài hòa giữa doanh nghiệp, người chăn nuôi sản xuất sữa nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến theo các mô hình liên kết tiên tiến, cùng phát triển nhằm ổn định thị trường, nâng cao năng lực sản xuất, sức cạnh tranh của sản phẩm, thương hiệu sữa Việt Nam.
Song song với mở rộng sản xuất, chiến lược đặt trọng tâm phát triển hệ thống phân phối hiện đại, thương mại điện tử để phát triển thị trường trong nước, đồng thời, tận dụng các FTA để thúc đẩy xuất khẩu, xây dựng thương hiệu sữa Việt trên thị trường quốc tế.
Ngoài ra, chiến lược còn đặt mục tiêu thúc đẩy phát triển mô hình sản xuất xanh trong ngành sữa, khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, phát triển sản phẩm theo hướng tăng trưởng xanh.















