Đà Nẵng “chốt” quỹ đất 2–3 ha tại xã Bà Nà cho nhà máy xử lý chất thải xây dựng
Ngày 4/2, Văn phòng UBND TP Đà Nẵng cho biết, UBND TP vừa thống nhất phương án lựa chọn địa điểm đầu tư Nhà máy xử lý chất thải rắn xây dựng và xác định các điểm tập kết, trung chuyển tạm thời trên địa bàn TP.
Theo đó, TP thống nhất lựa chọn khu vực đã được cấp phép cho Công ty CP Tập đoàn Nguyễn Phan Chánh khai thác đất đồi tại thôn Phước Thuận, xã Bà Nà để triển khai dự án đầu tư xây dựng Nhà máy xử lý chất thải rắn xây dựng. Khu đất có diện tích dự kiến khoảng 2–3 ha, phù hợp bố trí các hạng mục xử lý, phân loại và tái chế chất thải phát sinh từ hoạt động xây dựng.
Việc lựa chọn khu vực này được đánh giá là bước đi cụ thể nhằm hình thành hạ tầng xử lý tập trung, góp phần giảm áp lực cho môi trường đô thị, đồng thời khắc phục tình trạng đổ thải không đúng nơi quy định tại một số khu vực ven đô và vùng giáp ranh.
Cùng với nhà máy xử lý tập trung, TP cũng thống nhất bố trí hai điểm tập kết, trung chuyển chất thải rắn xây dựng tạm thời tại các khu vực có nhu cầu phát sinh lớn. Cụ thể, tại phường Hải Vân (R01), điểm tập kết được đặt tại Khu tái định cư Hòa Hiệp 3, trên lô đất trống thuộc trục đường Nguyễn Bá Phát, với diện tích khoảng 1,1 ha, thuận lợi cho việc tiếp nhận và trung chuyển chất thải từ khu vực phía Bắc TP.

Tại phường Ngũ Hành Sơn (R05), điểm tập kết thứ hai được bố trí tại lô đất ký hiệu A1-2, Khu thu nhập thấp Đông Trà (vị trí 11–12), mặt tiền đường Võ Chí Công, diện tích khoảng 0,7 ha. Đây là khu vực tập trung nhiều dự án xây dựng, việc bố trí điểm trung chuyển được kỳ vọng sẽ giúp quản lý tốt hơn dòng chất thải phát sinh, hạn chế tình trạng vận chuyển tự phát gây ảnh hưởng đến trật tự đô thị và môi trường.
Về định hướng lâu dài, UBND TP giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng và UBND các xã, phường tổ chức rà soát tổng thể kế hoạch sử dụng đất và nhu cầu phát sinh chất thải rắn xây dựng tại từng địa phương, làm cơ sở đề xuất bổ sung các điểm tập kết, trung chuyển phù hợp, bảo đảm phân bố hợp lý theo không gian đô thị và khối lượng phát sinh thực tế.


















