Hai nút thắt chưa có phương án tháo gỡ cho nhập khẩu ngành đường

+ aA -
L. Anh
19/06/2026 15:17 GMT +7
Theo VDSC, trong khi các biện pháp phòng vệ thương mại đã phát huy hiệu quả đối với kênh nhập khẩu chính ngạch, áp lực từ đường nhập lậu và sản phẩm thay thế (đường lỏng siro ngô – HFCS) vẫn là những thách thức lớn đối với triển vọng ngành trong trung hạn.

Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) đã có báo cáo Tổng quan ngành đường Việt Nam & Cập nhật thông tin gia hạn thuế phòng vệ thương mại.

Theo dữ liệu VDSC, ngành đường Việt Nam đang ở trong giai đoạn tăng trưởng chậm hơn, kèm theo đó là mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Mặc dù nhu cầu tiêu thụ trong nước duy trì xu hướng tăng và sản lượng đường mía nội địa mới chỉ đáp ứng ~50% nhu cầu, thị trường đường trong nước vẫn trong trạng thái dư cung do sự hiện diện của đường nhập, đường nhập lậu và đường lỏng siro ngô (HFCS). Điều này khiến giá đường liên tục điều chỉnh từ nửa cuối năm 2023 đến nay.

Trong khi các biện pháp phòng vệ thương mại đã phát huy hiệu quả đối với kênh nhập khẩu chính ngạch, áp lực từ đường nhập lậu và sản phẩm thay thế (đường lỏng siro ngô – HFCS) vẫn là những thách thức lớn đối với triển vọng ngành trong trung hạn.

Kênh chính ngạch – Tác động tích cực từ các biện pháp phòng vệ thương mại

Dữ liệu cho thấy, khối lượng đường nhập khẩu chính ngạch vào Việt Nam đã giảm mạnh trong những năm gần đây, từ khoảng 1,22 triệu tấn năm 2021 xuống còn 0,36 triệu tấn năm 2025, tương ứng tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) giai đoạn 2022–2025 ở mức âm 26,5% (theo Trade Map).

Theo nhóm phân tích, diễn biến này chủ yếu đến nhờ vào việc Việt Nam áp dụng thuế CBPG và CTC đối với đường có xuất xứ từ Thái Lan kể từ tháng 6/2021, với tổng mức thuế lên tới 47,64% (bao gồm 42,99% thuế CBPG và 4,65% thuế CTC). Các biện pháp này có hiệu lực trong 5 năm, được duy trì đến năm 2026 và đã được gia hạn lại trong thời gian gần đây cho thời hạn 5 năm đến 2031.

Trong bối cảnh Thái Lan là nguồn cung đường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đã góp phần làm giảm đáng kể lượng đường giá rẻ nhập khẩu vào thị trường nội địa. Qua đó, ngành đường trong nước có điều kiện thuận lợi hơn để phục hồi sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện khả năng cạnh tranh.

Đồng thời, các doanh nghiệp nội địa cũng được giảm bớt áp lực về giá bán và thị phần, tạo tiền đề cho quá trình tái cơ cấu vùng nguyên liệu cũng như mở rộng công suất trong những năm gần đây.

Tuy nhiên, hai điểm nghẽn lớn vẫn còn tồn tại khiến các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đứng trước áp lực cạnh tranh vô cùng lớn, bao gồm: Đường nhập lậu chưa có cơ chế kiểm soát và đường lỏng siro ngô được ưa chuộng hơn trong sản xuất nhờ hiệu quả tối ưu chi phí so với đường cát trắng tinh luyện.

Kênh tiểu ngạch – Áp lực cạnh tranh từ đường nhập lậu

Bên cạnh đó, mặc dù Việt Nam đã áp dụng thuế chống bán phá giá (CBPG) và chống trợ cấp (CTC) đối với đường nhập khẩu nhằm bảo vệ ngành mía đường trong nước và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả thực tế vẫn phần nào bị hạn chế bởi tình trạng đường nhập lậu qua biên giới.

Theo số liệu từ VSSA, khối lượng đường nhập lậu vào Việt Nam ước đạt khoảng 700–800 nghìn tấn mỗi năm trong giai đoạn 2022– 2025, cao hơn đáng kể so với mức khoảng 500 nghìn tấn của năm 2021 (thời điểm các biện pháp CBPG và CTC mới bắt đầu được áp dụng từ nửa cuối năm).

Nguồn cung này chủ yếu đi qua các tuyến biên giới Campuchia và Lào, hai quốc gia nhập khẩu lượng lớn đường từ Thái Lan trước khi thẩm lậu vào thị trường Việt Nam thông qua các kênh không chính thức. Do đó, xét về bản chất, phần lớn đường nhập lậu hiện nay vẫn là đường có nguồn gốc từ Thái Lan. Điều này không chỉ làm suy giảm hiệu quả của các biện pháp phòng vệ thương mại mà còn tạo áp lực cạnh tranh đáng kể lên các doanh nghiệp sản xuất đường trong nước, đặc biệt trong những giai đoạn giá đường thế giới ở mức thấp.

Đường lỏng siro ngô (HFCS): Nhờ lợi thế về chi phí và độ ngọt cao hơn so với đường tinh luyện truyền thống khi sử dụng cùng một lượng nguyên liệu, HFCS ngày càng được sử dụng rộng rãi trong ngành thực phẩm và đồ uống nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất. Trước đây, các doanh nghiệp nước giải khát là nhóm khách hàng tiêu thụ đường tinh luyện lớn nhất.

Tuy nhiên, cùng với xu hướng nâng cao hiệu quả chi phí, nhiều doanh nghiệp đã từng bước chuyển sang sử dụng HFCS như một nguyên liệu thay thế. Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, lượng HFCS nhập khẩu vào Việt Nam tăng đều qua các năm, từ khoảng 166 nghìn tấn năm 2020 lên 242 nghìn tấn năm 2024, tương ứng tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) giai đoạn 2020–2024 đạt 10,1%.

Phần lớn lượng HFCS nhập khẩu là chủng loại HFCS-55 (gồm 55% fructose và 45% glucose), có độ ngọt cao hơn khoảng 25–60% so với đường thông thường, qua đó giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí nguyên liệu trên mỗi đơn vị sản phẩm. Do đó, đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho thị trường đường tinh luyện ngày càng co hẹp.

Cơ chế phòng vệ: Gia hạn hiệu lực áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp với đường mía Thái Lan đến 2031

Việc áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với một số sản phẩm đường mía có xuất xứ từ Thái Lan từ 15/06/2021 đã mang lại nhiều kết quả tích cực đối với ngành mía đường và người nông dân trồng mía trong giai đoạn 5 năm thực hiện, cụ thể bằng hình dưới đây:

Ngày 13/06/2025, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1686/QĐ-BCT về việc rà soát cuối kỳ các biện pháp CBPG và CTC đang áp dụng đối với đường mía có xuất xứ từ Thái Lan trong giai đoạn 2021–2026.

Kết quả rà soát cho thấy, nếu các biện pháp này bị chấm dứt, khả năng đường Thái Lan tiếp tục được bán phá giá và hưởng trợ cấp khi xuất khẩu vào Việt Nam là tương đối cao, qua đó có thể gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất đường trong nước.

Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 1309/QĐ-BCT, chính thức gia hạn các biện pháp CBPG và CTC thêm 5 năm, đến hết ngày 15/06/2031. Nhìn chung, việc gia hạn các biện pháp phòng vệ thương mại được kỳ vọng sẽ tiếp tục tạo lớp bảo vệ cần thiết cho ngành đường nội địa, hạn chế áp lực cạnh tranh từ đường nhập khẩu giá rẻ và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước duy trì hoạt động sản xuất, đầu tư vùng nguyên liệu trong trung – dài hạn.

Năm 2025, tổng nhu cầu tiêu thụ đường trong nước ước đạt 2,6 triệu tấn (gồm tiêu thụ đường mía, đường lỏng siro ngô và các loại khác), tương ứng với mức tiêu thụ bình quân đầu người đạt 25,6 kg/năm.
Mặc dù thị trường đường Việt Nam thường trong tình trạng dư cung, năng lực sản xuất đường mía trong nước mới chỉ đáp ứng được ~50% nhu cầu, với sản lượng đường mía nội địa ước đạt khoảng 1,35 triệu tấn. Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn đường để bù đắp phần thiếu hụt.
Tổng nguồn cung đường cho năm 2025 ước tính đạt khoảng 2,73 triệu tấn với ~50 đường sản xuất trong nước, phần còn lại là đường nhập khẩu qua kênh chính ngạch (13%), tiểu ngạch (28%) và đường lỏng từ siro ngô (9%)