Không thiếu tiền, đâu mới là thách thức đối với bài toán 1.500 tỷ USD của Việt Nam 5 năm tới?

+ aA -
Hạ Trang
03/10/2026 08:18 GMT +7
Chuyên gia cho rằng với tỷ lệ tiết kiệm nội địa tới 37% GDP, thách thức giải bài toán 1.500 tỷ USD trong 5 năm tới không nằm ở việc thiếu tiền, mà là xây dựng các công cụ nợ dài hạn để dòng vốn chảy đúng vào các ngành nâng cao năng suất.
Toàn cảnh Diễn đàn chuyên đề Việt Nam “Đầu tư vào Việt Nam - Vươn mình trong kỷ nguyên mới”. Ảnh: BTC

Việt Nam cần khoảng 1.500 tỷ USD vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm tới để hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%. Nhưng bài toán đặt ra không chỉ là huy động đủ số tiền này, mà còn là làm thế nào đưa nguồn lực đến đúng lĩnh vực, dự án và với kỳ hạn phù hợp với nhu cầu đầu tư dài hạn.

Đây là những vấn đề được đặt ra tại Diễn đàn chuyên đề Việt Nam “Đầu tư vào Việt Nam - Vươn mình trong kỷ nguyên mới”, diễn ra chiều 2/10 tại Hà Nội, trong khuôn khổ Hội nghị thường niên lần thứ 31 của Diễn đàn Chứng khoán châu Á (ASF AGM 2026).

Nhu cầu vốn gần 1.500 tỷ USD trong 5 năm

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Nguyễn Hoàng Dương, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương gần 1.500 tỷ USD.

Nguồn vốn này phục vụ nhu cầu phát triển hạ tầng, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi năng lượng và sản xuất công nghệ cao, trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10% trong 5 năm tới.

Ngân sách nhà nước dự kiến đáp ứng khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 20%; phần còn lại cần huy động từ khu vực tư nhân và các nguồn vốn quốc tế.

“Riêng kênh thị trường vốn và chứng khoán sẽ đóng vai trò quan trọng khi đảm nhận mục tiêu huy động khoảng 10 triệu tỷ đồng, trung bình 2 triệu tỷ đồng mỗi năm”, ông Nguyễn Hoàng Dương cho biết.

Trong đó, vốn huy động qua thị trường chứng khoán dự kiến đạt khoảng 5,4 triệu tỷ đồng trong 5 năm tới, gấp hơn hai lần tổng lượng vốn huy động giai đoạn 2020 - 2025.

Quy mô vốn cần huy động rất lớn, nhưng thách thức không chỉ nằm ở lượng tiền cần có. Vấn đề là cấu trúc dẫn vốn và khả năng đưa nguồn lực vào những lĩnh vực tạo ra năng suất và tăng trưởng dài hạn.

Từ góc nhìn Ngân hàng Thế giới (World Bank), bà Tehmina Khan, chuyên gia kinh tế trưởng phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào, nhấn mạnh Việt Nam không thiếu nguồn lực tài chính.

Tỷ lệ tiết kiệm nội địa khoảng 37% GDP là mức tương đối cao, bên cạnh tiềm năng huy động vốn nước ngoài chưa được khai thác hết. Theo bà, bài toán cốt lõi là phát triển các kênh và công cụ để đưa nguồn lực đến đúng lĩnh vực, dự án phù hợp.

“Cơ hội ở đây không chỉ là phát hành thêm trái phiếu, mà là cung cấp nguồn tài chính có kỳ hạn phù hợp với nhu cầu đầu tư dài hạn,” bà Tehmina Khan nhấn mạnh.

Điều này đặt ra yêu cầu tái cân bằng cấu trúc dẫn vốn. Hiện hệ thống ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn. Đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng đạt khoảng 18,58 triệu tỷ đồng, tương đương 145% GDP. Năm 2026, hệ thống ngân hàng dự kiến tiếp tục cung ứng thêm khoảng 2,8 triệu tỷ đồng tín dụng mới.

Tuy nhiên, các dự án hạ tầng, năng lượng và công nghệ cần nguồn vốn dài hạn, đòi hỏi thị trường vốn tham gia nhiều hơn.

Theo ông Nguyễn Hoàng Dương, Việt Nam cần từng bước tái cân bằng cấu trúc dẫn vốn: tín dụng ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng, còn nhu cầu vốn trung và dài hạn dịch chuyển dần sang cổ phiếu, trái phiếu, vốn tư nhân, hợp tác công – tư và thị trường quốc tế.

Bà Tehmina Khan cho biết, kế hoạch hiện đại hóa hạ tầng dự kiến đưa tỷ lệ đầu tư công/GDP lên khoảng 10% trong 5 năm tới. Trong khi đó, nguồn tài chính Chính phủ huy động thời gian qua chủ yếu đến từ ngân hàng và quỹ bảo hiểm xã hội Nhà nước. Khi nhu cầu phát hành trái phiếu tăng, khả năng hấp thụ thêm của các nguồn này sẽ trở thành thách thức.

Thị trường vốn phải mở rộng khả năng hấp thụ

Bà Tehmina Khan, chuyên gia kinh tế trưởng phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào. Ảnh: BTC

Để đáp ứng nhu cầu vốn, thị trường cần mở rộng cả quy mô lẫn khả năng hấp thụ.

Theo ông Nguyễn Hoàng Dương, năm 2025, vốn huy động qua cổ phiếu đạt khoảng 113.000 tỷ đồng, trái phiếu doanh nghiệp khoảng 651.000 tỷ đồng và trái phiếu Chính phủ khoảng 378.000 tỷ đồng.

Đến giữa năm 2026, dư nợ thị trường trái phiếu đạt khoảng 32,1% GDP, trong đó trái phiếu doanh nghiệp khoảng 11,6% GDP và trái phiếu Chính phủ khoảng 20,5% GDP.

Theo Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030, mục tiêu là vốn hóa cổ phiếu đạt 120% GDP, quy mô thị trường trái phiếu đạt 58% GDP, riêng trái phiếu doanh nghiệp đạt tối thiểu 25% GDP.

UBCKNN xác định năm định hướng ưu tiên: tái cân bằng cấu trúc dẫn vốn; đa dạng hóa công cụ nợ bằng đồng nội tệ; xây dựng cơ sở nhà đầu tư tổ chức dài hạn; phát triển trái phiếu bền vững theo chuẩn quốc tế; hội nhập sâu hơn với thị trường quốc tế.

Các sản phẩm được định hướng phát triển gồm trái phiếu hạ tầng, trái phiếu dự án, trái phiếu chính quyền địa phương và chứng khoán hóa tài sản. Trái phiếu xanh, xã hội, bền vững, chuyển dịch và tài chính hỗn hợp cũng là những cấu phần cần thúc đẩy.

Theo ông Dương, thị trường có chiều sâu cần sự tham gia tương xứng của quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và doanh nghiệp bảo hiểm, cùng hệ thống định giá, xếp hạng tín nhiệm, công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất và hạ tầng giao dịch, lưu ký minh bạch.

Đến năm 2030, UBCKNN đặt mục tiêu giá trị tài sản của nhà đầu tư nước ngoài đạt khoảng 15% GDP, tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ khoảng 5% GDP và tài sản các quỹ hưu trí tăng bình quân 11,5%/năm.

Bà Tehmina Khan cũng đề xuất ba ưu tiên: đa dạng hóa nhà đầu tư tổ chức; cải thiện định giá, thanh khoản và thị trường thứ cấp; hoàn thiện hạ tầng, thanh toán bù trừ, công bố thông tin và xếp hạng tín nhiệm.

Theo bà, tiến tới mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư có thể giúp Việt Nam mở rộng cơ sở nhà đầu tư, giảm chi phí vay và tạo chuẩn tham chiếu cho các chủ thể đi vay khác. Nền tảng của quá trình này là tài chính công minh bạch, chính sách tiền tệ và tài khóa nhất quán, cùng hệ thống tài chính vững mạnh.