Lãi suất tăng thêm 1% có thể làm chi phí lãi vay toàn hệ thống tăng thêm khoảng 184.000 tỷ/năm
Áp lực vốn rõ rệt trong hệ thống ngân hàng
Dữ liệu từ Chứng khoán SHS, làn sóng tăng lãi suất huy động cuối tháng 3/2026 cho thấy áp lực vốn trong hệ thống ngân hàng đã quay trở lại rõ rệt, không còn mang tính cục bộ. Việc mức lãi suất niêm yết 10%/năm xuất hiện trở lại sau khoảng 4 năm, cùng với động thái tăng lãi suất của nhóm “Big 4” ở kỳ hạn 12 tháng từ 5,2% lên 5,9%, phản ánh cạnh tranh huy động đang bước vào giai đoạn căng thẳng hơn, đặc biệt trong bối cảnh tỷ giá biến động và thanh khoản liên ngân hàng thiếu ổn định.

Rủi ro lớn nhất của xu hướng này nằm ở chi phí vốn của khu vực doanh nghiệp. Theo ông Nguyễn Minh Hạnh, Giám đốc Khối phân tích Chứng khoán SHS, với độ nhạy cao của nền kinh tế đối với lãi suất, chỉ cần lãi suất tăng thêm 1% có thể làm chi phí lãi vay toàn hệ thống tăng thêm khoảng 184.000 tỷ đồng mỗi năm, kéo theo nguy cơ thu hẹp biên lợi nhuận, giảm nhu cầu đầu tư tư nhân và làm suy yếu sức chống chịu của các doanh nghiệp có đòn bẩy cao. Đáng lưu tâm, đây là dạng chi phí “ngấm dần” , thường bộc lộ rõ trong các quý sau khi lãi suất huy động tăng.
Tuy nhiên, điểm cốt lõi là lãi suất tăng hiện tại chủ yếu phản ánh cuộc đua giành tiền gửi giữa các ngân hàng, hơn là tín hiệu của nhu cầu tín dụng bùng nổ. Dữ liệu tín dụng tính đến 24/03 vẫn tăng chậm, cho thấy vốn chưa chảy mạnh ra nền kinh tế thực mà vẫn luân chuyển trong hệ thống tài chính.

Vì vậy, mặt bằng lãi suất tăng trong khi tín dụng chưa tăng tương xứng sẽ tạo ra nghịch lý: Chi phí vốn tăng trước, nhưng tăng trưởng kinh tế chưa kịp hưởng lợi. Trong bối cảnh mục tiêu GDP hai chữ số, việc dựa quá nhiều vào đầu tư công là không đủ, bởi tăng trưởng bền vững vẫn phải đến từ sự phục hồi đồng thời của tiêu dùng, xuất khẩu và đầu tư tư nhân.

Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 3/2026, ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thừa nhận mặt bằng lãi suất có xu hướng gia tăng. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, trước hết, huy động vốn của toàn hệ thống ngân hàng có thể chịu tác động và cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác. Mặt bằng lãi suất tiền gửi cũng đã có xu hướng tăng từ cuối năm 2025 đến nay - sau một thời gian dài duy trì ổn định.
Xét về cân đối vốn, theo ông Hà, tăng trưởng tín dụng tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn, cho thấy nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế luôn ở mức cao.
"Điều này càng rõ nét hơn trong bối cảnh chúng ta đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số, kéo theo nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư tiếp tục gia tăng mạnh", ông Hà nói.
Ngày 30/03/2026 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có văn bản gửi các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, NHNN chi nhánh các khu vực về việc thực hiện các giải pháp để ổn định mặt bằng lãi suất.
NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng tập trung triển khai một số giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất thị trường, góp phần ổn định thị trường tiền tệ theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của TCTD, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an toàn hoạt động của TCTD.
NHNN sẽ theo dõi chặt chẽ diễn biến lãi suất tiền gửi và cho vay, việc công bố lãi suất cho vay trên trang thông tin điện tử của TCTD; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của TCTD đối với chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN về lãi suất tiền gửi và cho vay.
Dự báo về cầu vốn trong thời gian tới
Theo ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank, thực tế việc điều hành lãi suất phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng vốn, nhưng lâu nay nhà băng này vẫn khá chủ động và quản lý thanh khoản ổn định.
"Đợt sóng lãi suất cao vừa qua chỉ mang tính cục bộ trong ngắn hạn. Với sự điều phối và các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, thị trường sẽ sớm ổn định trở lại. Trong ngành ngân hàng có tính hệ thống cao, khi một đơn vị đẩy lãi suất lên sẽ tạo hiệu ứng khiến các đơn vị khác phải nâng theo, nhưng về lâu dài, Nhà nước sẽ có những điều chỉnh để bình ổn", ông Hưng kỳ vọng.

Dự báo trong ngắn hạn, ông Hưng phân tích, chính sách tăng trưởng tín dụng năm nay có sự khác biệt là hạn chế đổ vốn vào bất động sản. Do đó, phần lớn nguồn vốn tín dụng sẽ tập trung vào các khu vực sản xuất kinh doanh khác. Để phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, các ngành nghề sản xuất sẽ được hưởng lợi.
Bên cạnh đó, lãi suất huy động hiện đã lên khoảng 8-9% nên lãi suất cho vay đang nằm ở mức 12-13%. Theo quy định, mỗi tháng các ngân hàng phải công khai lãi suất cho vay bình quân của các hợp đồng mới phát sinh trong tháng trước.
Theo lãnh đạo TPBank, đây là con số tổng hợp chung, bao gồm cả lãi suất ngoại tệ và các khoản cho vay ưu đãi (như nhà ở), nên nó phản ánh mức phát sinh thực tế của tháng trước chứ không phản ánh toàn bộ danh mục tín dụng hiện có hay xu hướng riêng biệt của từng sản phẩm.
Nhìn lại việc tăng vốn thành công trong năm qua, lãnh đạo TPBank bộc bạch, ngân hàng luôn chịu áp lực phải tăng vốn để đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo các tiêu chuẩn ngặt nghèo của Ngân hàng Nhà nước. Nếu không tăng được vốn tự có, ngân hàng sẽ rất khó mở rộng danh mục đầu tư và tín dụng, ngay cả khi cơ quan quản lý không còn kiểm soát room tín dụng.
"Hiện nay, chúng tôi chủ yếu dựa vào lợi nhuận để lại để bồi đắp vốn tự có. Việc duy trì vốn tự có tăng trưởng tương xứng với tài sản có rủi ro là điều kiện bắt buộc để đáp ứng các bộ chỉ số khắt khe, giúp ngân hàng duy trì sự phát triển bền vững", ông Hưng chia sẻ.



















