Luật Phát triển đô thị: Đề nghị phân định rõ bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm với sai phạm do thiếu trách nhiệm, cố ý
Làm rõ điều kiện bảo vệ cán bộ
Phát biểu về cơ chế bảo vệ cán bộ tại dự án Luật Phát triển đô thị, đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Đoàn ĐBQH TP Huế, cho rằng Điều 62 đặt ra cơ chế loại trừ miễn trách nhiệm đối với trường hợp cán bộ thực hiện đúng thẩm quyền, quy trình, không vụ lợi nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.
Đại biểu đồng tình với chủ trương này nhằm khuyến khích đổi mới, dám nghĩ, dám làm, song cần phân định rõ rủi ro do đổi mới với sai phạm do thiếu trách nhiệm hoặc cố ý làm trái.

Đại biểu đề nghị Điều 62 quy định rõ các điều kiện được bảo vệ, gồm thực hiện đúng thẩm quyền, vì lợi ích công, không vụ lợi, có căn cứ và thông tin đầy đủ, đã đánh giá rủi ro, tuân thủ quy trình, không che giấu thông tin và không vượt giới hạn thí điểm.
Đồng thời, bà Sửu cho rằng: Dự án Luật cần xác định rõ các trường hợp không được bảo vệ như cố ý làm trái, vụ lợi, che giấu thông tin, vượt thẩm quyền hoặc lợi dụng thí điểm để trục lợi.
Liên quan tổ chức thi hành và quy định chuyển tiếp, đại biểu Nguyễn Thị Sửu tán thành ý kiến của đại biểu Hải Phòng và mong muốn tiếp tục triển khai. Theo đại biểu, qua lộ trình, tại HĐND thành phố có 70 văn bản và 30 văn bản thuộc thẩm quyền của UBND thành phố. Với tổng số 100 văn bản, nếu chậm triển khai, không đồng bộ với dự luật khi có hiệu lực sẽ gây khó khăn cho việc triển khai trong thực tiễn.
Đại biểu Nguyễn Hải Long, Đoàn ĐBQH TP Đà Nẵng cho rằng các lĩnh vực quy hoạch, đầu tư, đất đai, tài nguyên, môi trường, tài chính, thuế, hải quan và các cơ chế khác cơ bản đã có quy định. Do đó, cần quy định có tính nguyên tắc trong luật, làm cơ sở cho Chính phủ và các địa phương triển khai.

Đại biểu dẫn ví dụ Đà Nẵng đã xúc tiến dự án khu đô thị lấn biển khoảng 1.500 ha, gần gấp ba lần diện tích quận Hoàn Kiếm trước đây, với tổng vốn dự kiến hơn 400.000 tỷ đồng.
“Việt Nam sẽ có nhiều khu lấn biển như Đà Nẵng. Một dự án tầm vóc như vậy rất cần một khung pháp lý vững chắc, ổn định”, đại biểu Nguyễn Hải Long nêu và cho rằng quy định ngay trong luật sẽ tạo cú hích pháp lý, thúc đẩy phát triển khu lấn biển.
Mở rộng phạm vi TOD, không chỉ gắn với đường sắt
Về mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) cho rằng đây là công cụ quan trọng để tổ chức phát triển đô thị gắn với hạ tầng giao thông, khai thác hiệu quả quỹ đất và huy động nguồn lực đầu tư.
Tuy nhiên, khoản 9 Điều 2 hiện xác định TOD theo hướng lấy điểm kết nối giao thông đường sắt làm trung tâm. Khoản 10 Điều 2 xác định khu vực TOD gồm nhà ga, depot đường sắt và vùng phụ cận. Theo đại biểu, khái niệm TOD trong dự thảo về cơ bản được thiết kế gắn riêng với đường sắt.
Trong thực tiễn phát triển đô thị, nhu cầu tổ chức không gian theo định hướng giao thông công cộng có thể đặt ra tại các đầu mối giao thông công cộng có năng lực vận chuyển lớn và khả năng kết nối nhiều phương thức giao thông.
Đối với tỉnh Lâm Đồng, địa phương đã xác định định hướng từng bước triển khai TOD tại các đầu mối giao thông lớn, ga đường sắt tốc độ cao, nút giao cao tốc và các hành lang kinh tế quan trọng.

Vì vậy, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị chỉnh lý khoản 9 và khoản 10 Điều 2 theo hướng xác định TOD lấy đầu mối giao thông công cộng có năng lực vận chuyển lớn làm trung tâm, trong đó đường sắt chủ yếu, thay vì giới hạn duy nhất ở đường sắt.
Theo đại biểu, cách quy định này sẽ tăng tính bao quát, ổn định của luật, đồng thời tạo cơ sở để địa phương lựa chọn mô hình phù hợp với cấu trúc đô thị và hệ thống giao thông thực tế.
Đối với cơ chế dành cho dự án lớn, quan trọng tại khoản 2 Điều 2, Điều 15 và Điều 33, đại biểu Dương Khắc Mai thống nhất với chủ trương thiết kế cơ chế đặc thù để rút ngắn thủ tục, đẩy nhanh tiến độ. Tuy nhiên, phạm vi dự án và mối quan hệ giữa các thẩm quyền trong dự thảo luật cần được phân định rõ hơn.
Theo đại biểu, điểm a khoản 2 Điều 2 xác định một trong các trường hợp dự án lớn, quan trọng là dự án đầu tư cần triển khai ngay, nhưng dự thảo chưa quy định căn cứ, tiêu chí và chủ thể xác định thế nào là cần triển khai ngay.
Cụm từ này cũng được sử dụng tại điểm c khoản 4 Điều 33 để áp dụng cơ chế lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu trong trường hợp đặc biệt. Khi dự án thuộc nhóm này, có khả năng được bỏ thủ tục quyết định chủ trương đầu tư theo khoản 2 Điều 15 hoặc áp dụng cơ chế lựa chọn đặc biệt. Vì vậy, tiêu chí áp dụng cần đủ rõ để tránh mở rộng tùy nghi.
Đại biểu đề nghị làm rõ nguyên tắc thẩm quyền xác định, đồng thời phân biệt trường hợp cần triển khai ngay với dự án đầu tư xây dựng cấp bách, khẩn cấp.
Đại biểu cũng đề nghị rà soát mối quan hệ giữa khoản 2 Điều 15 và Điều 33. Khoản 2 Điều 15 quy định đối với các dự án thuộc khoản 2 Điều 2, Chủ tịch UBND thành phố được quyết định đầu tư dự án đầu tư công, dự án PPP không phải thực hiện thủ tục thẩm định quyết định chủ trương đầu tư.















