Nợ xấu quanh mức 2% nhưng nợ nhóm 2 lập đỉnh, bộ đệm dự phòng ngân hàng mỏng dần

+ aA -
Hạ Trang
25/08/2026 14:33 GMT +7
Trong bối cảnh NIM toàn ngành khó mở rộng và áp lực trích lập gia tăng, những đại lượng như MB, Techcombank hay Vietcombank vẫn giữ vững lợi thế nhờ nguồn vốn CASA vượt mốc 30% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100%. Sự phân hóa chất lượng tài sản giữa các nhóm ngân hàng dự kiến sẽ ngày càng dày thêm.

Theo báo cáo ngành ngân hàng quý II/2026 của Chứng khoán Yuanta Việt Nam, biên lãi ròng (NIM) toàn ngành đạt 3,15%, tăng 16 điểm cơ bản so với quý trước nhưng vẫn thấp hơn 10 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm ngoái. Cùng với sự phục hồi của NIM, diễn biến tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cho thấy sự khác biệt giữa các ngân hàng về khả năng kiểm soát chi phí vốn.

Trong quý II, lợi suất tài sản toàn ngành tăng 92 điểm cơ bản lên 7,7%, còn chi phí vốn (COF) tăng 105 điểm cơ bản lên 4,79%. Theo Yuanta Việt Nam, NIM cải thiện theo quý không đến từ việc giảm chi phí vốn mà chủ yếu nhờ tái định giá các khoản cho vay và kéo dài kỳ hạn tín dụng.

Tỷ trọng dư nợ dài hạn theo đó tăng từ 30,4% cùng kỳ năm ngoái lên 33,1% tổng danh mục cho vay. Các ngân hàng cũng có thêm dư địa khi tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ 30% lên 40%.

Ở chiều huy động, CASA vẫn là nguồn vốn có chi phí thấp của các ngân hàng, dù tỷ lệ này trên toàn ngành đã giảm 121 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước xuống 20,9%. Trong đó, VIB giảm 487 điểm cơ bản, MSB giảm 368 điểm cơ bản, MB giảm 329 điểm cơ bản và Vietcombank giảm 304 điểm cơ bản.

Dù giảm so với cùng kỳ, MB, Techcombank và Vietcombank vẫn là ba ngân hàng lớn duy trì CASA trên 30%, với tỷ lệ lần lượt 34,6%, 35% và 33,9%. Cả ba cũng giữ được NIM so với quý trước trong quý II/2026.

Theo Yuanta Việt Nam, lợi thế về CASA hiện không chỉ nằm ở quy mô mà còn phụ thuộc vào khả năng duy trì ổn định nguồn tiền gửi này. Với nền CASA cao, MB, Vietcombank và Techcombank được đánh giá có lợi thế hơn về chi phí vốn và NIM.

Trong khi đó, việc nâng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% đang giúp giảm áp lực lên bảng cân đối, đồng thời hỗ trợ tín dụng và NIM. Tuy nhiên, Yuanta Việt Nam cho rằng tác động này chủ yếu mang tính ngắn hạn.

"Chúng tôi cho rằng NHNN nhiều khả năng vẫn duy trì mục tiêu dài hạn là giảm rủi ro lệch pha kỳ hạn trong hệ thống ngân hàng, đồng nghĩa với việc tỷ lệ này có thể sẽ được điều chỉnh giảm trở lại mức 30% khi điều kiện thị trường cho phép", Yuanta Việt Nam nhận định.

Do đó, việc nới tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn được Yuanta Việt Nam xem là yếu tố hỗ trợ tín dụng và NIM trong ngắn hạn, thay vì một động lực có thể duy trì lâu dài.

NIM nửa cuối năm khó mở rộng

Nhận định về diễn biến NIM trong thời gian tới, tại Talkshow "HDBank: Sẵn sàng đón chu kỳ tăng trưởng mới" do CTCP Chứng khoán TP HCM (HSC) tổ chức, bà Phạm Liên Hà, Giám đốc Nghiên cứu Cấp cao Ngành Dịch vụ Tài chính, Chứng khoán HSC cho rằng nhu cầu tín dụng cao vẫn là động lực chính cho tăng trưởng thu nhập của ngành ngân hàng.

Ngoài tín dụng, nguồn thu từ phí dịch vụ, đặc biệt tại một số ngân hàng có thế mạnh về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, cũng đóng góp vào tăng trưởng lợi nhuận.

Tuy nhiên, thanh khoản còn thiếu hụt và chi phí vốn duy trì ở mức cao đang tạo áp lực lên NIM. Cùng với đó, các ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ nền kinh tế, đặc biệt là nhóm ngân hàng quốc doanh.

NHNN hiện yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế. Vì vậy, HSC đánh giá NIM đã phục hồi trong quý II nhưng khả năng tiếp tục cải thiện trong thời gian tới chưa chắc chắn.

Bà Hà dự báo NIM trong nửa cuối năm 2026 khó mở rộng, thậm chí có thể chịu áp lực giảm nhẹ. Dù vậy, HSC kỳ vọng chỉ tiêu này trong 6 tháng cuối năm sẽ duy trì quanh mặt bằng của quý II/2026.

Nợ nhóm 2 tăng, bộ đệm dự phòng giảm

Bên cạnh NIM và chi phí vốn, Yuanta Việt Nam cũng ghi nhận một số thay đổi về chất lượng tài sản trong quý II. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) toàn ngành ở mức 2,01%, gần như không thay đổi so với mức 2% của quý I và thấp hơn nhẹ so với mức 2,05% cùng kỳ năm ngoái.

Trong khi tỷ lệ nợ xấu chính thức tương đối ổn định, nợ nhóm 2 tăng 14 điểm cơ bản so với quý trước lên 1,38%, cao nhất kể từ quý II/2025. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành đạt 78,9%, giảm 59 điểm cơ bản so với quý trước và 58 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm ngoái.

Xét theo từng ngân hàng, Vietcombank, ACB, Techcombank và VietinBank là bốn ngân hàng duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100%. Ở nhóm còn lại, Sacombank, OCB, VPBank, Eximbank và VIB ghi nhận tỷ lệ nợ xấu cao trong khi bộ đệm dự phòng ở mức thấp.

HSC cũng đưa ra đánh giá tương tự về xu hướng chất lượng tài sản. Theo bà Phạm Liên Hà, tỷ lệ nợ xấu chính thức của các ngân hàng HSC theo dõi hiện vẫn quanh 2%, chỉ tăng nhẹ so với quý I/2026 và quý IV/2025. Tuy nhiên, nợ nhóm 2 và tỷ lệ nợ xấu mới hình thành đã bắt đầu đi lên.

"Nếu nhìn ở cấp độ toàn ngành, tỷ lệ nợ xấu chính thức hiện tại chưa tăng mạnh, đang loanh quanh mức 2% trong phạm vi các ngân hàng chúng tôi theo dõi. Con số này có tăng nhẹ so với quý I/2026 và quý IV/2025. Tuy nhiên, nếu nhìn sang nợ nhóm 2 và tỷ lệ nợ xấu mới hình thành, chúng ta bắt đầu thấy một xu hướng đi lên trở lại", chuyên gia HSC nói.

Theo HSC, mức trích lập dự phòng trong 6 tháng đầu năm chưa tăng tương ứng với tốc độ hình thành nợ xấu mới. Chất lượng tài sản vì vậy chưa bước vào một chu kỳ suy giảm mạnh, nhưng rủi ro đã chuyển từ trạng thái "ổn định" sang "bắt đầu gia tăng".

Sự khác biệt cũng thể hiện giữa từng nhóm ngân hàng. HSC cho rằng áp lực chất lượng tài sản cao hơn ở các ngân hàng vừa và nhỏ hoặc những ngân hàng có khẩu vị rủi ro cao. Ngược lại, Vietcombank, ACB và Techcombank vẫn duy trì chất lượng tài sản tương đối tốt so với mặt bằng chung.

Đối với lĩnh vực bất động sản, bà Hà lưu ý: "Nếu thanh khoản thị trường bất động sản suy yếu, dòng tiền của các nhà phát triển sẽ chịu áp lực lớn, thời gian xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng có thể kéo dài".

Sacombank là trường hợp được cả Yuanta Việt Nam và HSC đề cập khi phân tích chất lượng tài sản. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng này tăng từ 2,46% trong quý II/2025 lên 6,41% vào cuối năm, sau đó lên 6,62% trong quý I/2026 và 7,54% vào quý II.

Theo Yuanta Việt Nam, mức tăng trên gắn với việc Sacombank chủ động ghi nhận chi phí dự phòng nhằm tiến tới hoàn thành quá trình tái cơ cấu, thay vì xuất phát từ một cú sốc mới về chất lượng tài sản.

"Sacombank đang chủ động làm sạch bảng cân đối kế toán trước đợt đấu giá 32,5% cổ phần VAMC", báo cáo nêu.

Trong quý II, SACOMBANK trích lập dự phòng 5.100 tỷ đồng, so với 900 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Chi phí dự phòng tăng khiến lợi nhuận sau thuế của công ty mẹ giảm 53,5%. Yuanta Việt Nam cho rằng quá trình xử lý bảng cân đối này là cần thiết và có thể tạo tác động tích cực cho SACOMBANK trong tương lai.

Về triển vọng chung, HSC dự phóng lợi nhuận ngành ngân hàng tăng lần lượt 15%, 19% và 20% trong giai đoạn 2026-2028. Theo HSC, các ngân hàng quy mô lớn, còn dư địa tăng trưởng, có khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế và sở hữu mô hình kinh doanh đa dạng được kỳ vọng có lợi thế hơn trong giai đoạn này.