Rau quả và thủy sản tiếp đà tăng trưởng, nông sản Việt tăng tốc về đích mục tiêu 74 tỷ USD

+ aA -
Hạ Trang
03/08/2026 16:54 GMT +7
Bức tranh xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 7 tháng đầu năm 2026 ghi nhận điểm sáng với tổng kim ngạch tiệm cận 42,8 tỷ USD. Trong đó, rau quả bứt phá kỷ lục với mức tăng gần 25%, còn Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất của nông sản Việt với mức tăng trưởng nhập khẩu lên tới 24,4%.

Theo số liệu Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố ngày 3/8, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trong tháng 7/2026, đưa kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm lên gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025.

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đã cải thiện so với nửa đầu năm. Cụ thể, mức tăng 7,5% sau 7 tháng cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với mức tăng 6,7% của 6 tháng đầu năm, cho thấy hoạt động xuất khẩu đang có xu hướng khởi sắc.

Riêng trong tháng 7, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 6,67 tỷ USD, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm ngoái.

Thủy sản, rau quả và gỗ tiếp tục là điểm sáng

Trong cơ cấu xuất khẩu 7 tháng đầu năm, nhóm nông sản mang về gần 22,2 tỷ USD, tăng 2,4% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,7%; lâm sản đạt 10,96 tỷ USD, tăng 5,8%.

Bên cạnh đó, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 455 triệu USD, tăng 33,2%; đầu vào sản xuất đạt 2,32 tỷ USD, tăng 71,1%; còn muối đạt 8,8 triệu USD, tăng 40,2%.

Ở nhóm hàng chủ lực, rau quả tiếp tục là ngành hàng tăng trưởng mạnh nhất với kim ngạch 4,83 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ. Tiếp đến là thủy sản với 6,85 tỷ USD (tăng 12,7%), gỗ và sản phẩm gỗ đạt 10,2 tỷ USD (tăng 5,5%), hạt tiêu đạt 1,09 tỷ USD (tăng 10,6%) và hạt điều đạt 2,91 tỷ USD (tăng 3,7%).

Ngược lại, một số mặt hàng ghi nhận kim ngạch xuất khẩu giảm dù sản lượng tăng hoặc duy trì ổn định. Trong đó, cà phê đạt 5,45 tỷ USD, giảm 11,2% do giá xuất khẩu bình quân giảm 19,9%. Gạo đạt 2,64 tỷ USD, giảm 6,7% trong khi khối lượng xuất khẩu vẫn tăng 0,5%. Cao su đạt 1,55 tỷ USD, giảm 4,5%; chè đạt 119 triệu USD, giảm 1,5% và sắn cùng các sản phẩm từ sắn đạt 755,4 triệu USD, giảm 0,2%.

Ảnh: AI

Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất

Về thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực nhập khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm 45,2% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tiếp theo là châu Mỹ với 21,4% và châu Âu với 13,8%.

So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sang châu Á tăng 13,2%, châu Âu tăng 1,8% và châu Đại Dương tăng 18,7%. Trong khi đó, xuất khẩu sang châu Mỹ giảm 0,5% và châu Phi giảm 20,4%.

Xét theo từng thị trường, Trung Quốc tiếp tục là đối tác xuất khẩu lớn nhất của nông, lâm, thủy sản Việt Nam với thị phần 21,9%, tiếp đến là Hoa Kỳ (19%) và Nhật Bản (6,8%).

Trong 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 24,4%, sang Nhật Bản tăng 3,9%, trong khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 1,6% so với cùng kỳ.

Ảnh: AI

Ở chiều ngược lại, nhập khẩu nông, lâm, thủy sản có dấu hiệu tăng chậm hơn. Trong tháng 7, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 4,53 tỷ USD, giảm 1,6% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 8% so với cùng kỳ năm 2025.

Lũy kế 7 tháng đầu năm, tổng giá trị nhập khẩu đạt 31,13 tỷ USD, tăng 10,8%, thấp hơn 0,5 điểm phần trăm so với mức tăng 11,3% của 6 tháng đầu năm.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tại Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026, Chính phủ đã nâng mục tiêu tăng trưởng của khu vực nông, lâm, thủy sản trong năm 2026 từ 3,7% lên 4%.

Để hoàn thành mục tiêu này, khu vực nông, lâm, thủy sản cần đạt mức tăng trưởng khoảng 4,3% trong 6 tháng cuối năm, thay cho kịch bản 3,75% được xây dựng trước đó.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đặt mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cả năm 2026 đạt 74 tỷ USD. Với kết quả gần 42,8 tỷ USD sau 7 tháng, toàn ngành cần xuất khẩu thêm khoảng 31,2 tỷ USD trong 5 tháng còn lại.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bộ sẽ tập trung mở rộng thị trường xuất khẩu; đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói; vận hành hiệu quả hệ thống truy xuất nguồn gốc, đồng thời chuẩn bị các điều kiện đáp ứng những quy định mới của các thị trường nhập khẩu.

Song song với đó, Bộ tiếp tục triển khai các giải pháp gỡ cảnh báo "thẻ vàng" IUU, tháo gỡ khó khăn cho các ngành hàng chủ lực, thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hoàn thiện cơ sở dữ liệu của ngành.