Thứ bánh dân dã, mộc mạc nhưng chưa bao giờ vắng bóng trên ban thờ gia tiên trong mỗi dịp Tết của làng quê xứ Nghệ

+ aA -
Bùi Ama
17/02/2026 08:00 GMT +7
Mỗi độ Tết đến xuân về, trong nhiều gia đình xứ Nghệ lại rộn ràng một mùi thơm rất riêng: mùi mật mía quyện với bột nếp, mùi khói bếp rơm phảng phất, mùi Tết quê lan tỏa. Đó là mùa làm bánh ong, thứ bánh dân dã mà thấm đẫm ký ức, gắn với nếp sinh hoạt và tinh thần tằn tiện, nghĩa tình của người Nghệ.

Bánh ong, hương vị Tết quê từ những nguyên liệu mộc mạc

Bánh ong không cầu kỳ hình thức, không sắc màu bắt mắt. Bánh thường được đóng trong khuôn tròn, dẹt hoặc dài, bề mặt có những lỗ nhỏ li ti giống tổ ong nên dân gian gọi vậy. Có nơi còn gọi là bánh mật, bánh tro mật, nhưng “bánh ong” vẫn là cách gọi thân thương, quen thuộc nhất ở nhiều làng ở xã Hậu Thành (cũ) Nghệ An.

Bánh ong là món bánh truyền thống, dân dã gắn liền với hương vị Tết cổ truyền, đặc biệt ở Nghệ an. Ảnh: Hà Nâu

Đây là loại bánh không thể thiếu trên bàn thờ gia tiên và trong mâm bánh Tết của người xứ Nghệ xưa, nhất là những gia đình thuần nông. Khi cái ăn còn chắt chiu, bánh ong vừa là quà Tết cho con trẻ, vừa là thức bánh dâng cúng tổ tiên, lại có thể để được lâu, dùng dần trong những ngày giêng hai.

Nguyên liệu làm bánh ong giản dị đến không ngờ: bột nếp, mật mía, một chút gừng giã nhỏ, có nơi thêm lạc rang hoặc vừng. Tất cả đều là sản vật sẵn có của làng quê sau vụ thu hoạch.

Mật mía là linh hồn của bánh ong vùng đất Giai Lạc. Đó là thứ mật nấu từ mía mình tự trồng, sánh đặc, màu nâu cánh gián, thơm nồng mùi nắng gió. Bột nếp thường là nếp Rồng, hoặc nếp chạo, hoặc nếp ba tháng địa phương, xay bằng cối đá, mịn nhưng vẫn giữ được độ “chắc” của bột gạo. Gừng nhà  cay nhẹ, ấm nồng, giúp bánh không ngấy và hợp với tiết trời se lạnh ngày Tết.

Ở xã Hậu Thành (cũ) xứ Nghệ, làm bánh ong không hẳn là một “làng nghề”, mà chủ yếu là nghề gia truyền (mẹ truyền cho gái) trong từng gia đình, việc làm bánh gắn với bếp lửa và bàn tay người mẹ và con gái.

Những ngày cận kề Tết Nguyên đán, từ đầu tháng Chạp, bếp lửa đỏ rực suốt buổi. Mật mía được đun nhỏ lửa cho tan đều, sánh lại, rồi từ từ trộn với bột nếp đã rang hoặc đồ chín.

Quá trình làm bánh ong, cho bột vào nồi đang sôi, người làm bánh phải đảo liên tục, đều tay để bột, mật và lạc được hòa quyện vào với nhau. Ảnh: TL

Công đoạn này đòi hỏi sự khéo léo và kinh nghiệm: lửa to quá bánh khét, lửa non bánh nhão, trộn không đều bánh sẽ cứng hoặc bở.

Khi bột đã “đứng”, người làm nhanh tay đổ bánh vào khuôn nén chặt, dùng que tre chọc những lỗ nhỏ trên mặt bánh cho thoát hơi, rồi đem hấp hoặc sấy bên bếp rơm.

Mọi thao tác đều thủ công, mọi công đoạn đều dựa vào kinh nghiệm cảm nhận của đôi tay và sự tinh ý của người mẹ. Vì thế, mỗi mẻ bánh là một “tính cách”: có mẻ dẻo mềm, có mẻ giòn nhẹ, nhưng đều mang hương vị rất Nghệ.

Giữ lửa bếp xưa, giữ hồn Tết trong nhịp sống hiện đại

Cắn miếng bánh ong ngày Tết, vị ngọt của mật mía không gắt mà đằm, quyện với vị dẻo bùi của nếp, cay cay của gừng, béo nhẹ của lạc vừng. Bánh ăn chậm, nhâm nhi cùng chén nước chè xanh hay bát nước vối nóng thì càng “đúng điệu”.

Đó là thứ ngọt của làng quê, không phô trương, không chiều chuộng vị giác, mà thấm dần, để rồi nhớ lâu.

Với người Nghệ xa quê, chỉ cần thoảng mùi bánh ong là Tết như hiện về nguyên vẹn: bếp lửa, tiếng nói cười, cái rét ngọt cuối năm và cảm giác sum vầy

Ngày nay, bánh kẹo công nghiệp tràn ngập trên các siêu thị tiện lợi, do đó, bánh ong không còn phổ biến như trước. Nhiều gia đình không còn tự làm bánh, do vậy nghề xưa vì thế cũng mai một dần.

Tuy vậy, nhiều nhà người vùng quê Hậu Thành (cũ) vẫn giữ " nghề" bánh ong để thờ cúng Tổ tiên, tiếp khách, vẫn còn những người già, những bà mẹ, bà ngoại lặng lẽ giữ nghề, coi đó như giữ một phần hồn Tết.

Bánh ong xứ Nghệ, không chỉ là một món ăn dân dã. Đó là kết tinh của mùa vụ, của bếp lửa gia đình, của nếp sống cần cù, chắt chiu mà nghĩa tình. Giữ được bánh ong trong mâm Tết, cũng là giữ lại một mảnh ký ức quê nhà – mộc mạc, ấm áp và rất đỗi thân thương.