Từ cao nguyên khô cằn thành "mỏ vàng" nông nghiệp

+ aA -
Phương Đăng (theo Tân Hoa Xã)
21/07/2026 12:11 GMT +7
Từng là vùng đất khắc nghiệt với khí hậu lạnh giá, khô hạn và gió cát, nhiều khu vực ở tỉnh Thanh Hải, Trung Quốc, nay đã trở thành những vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, cung cấp rau sạch và kỷ tử chất lượng cao cho khắp cả nước, thậm chí xuất khẩu. Nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng chuỗi giá trị, thu nhập của người dân tăng lên gấp nhiều lần so với trước.

Ảnh chụp từ máy bay không người lái này vào ngày 18/7 cho thấy quang cảnh tại huyện tự trị Menyuan Hui, tỉnh Thanh Hải, tây bắc Trung Quốc. (Ảnh Xinhua/Qi Zhiyue)

Cách thành phố Tây Ninh, thủ phủ tỉnh Thanh Hải, khoảng hai giờ lái xe về phía tây là làng Ganshuwan thuộc thị trấn Jingyang, huyện Datong. Giữa những cánh đồng xanh mướt, các luống đậu Hà Lan non và cải ngọt phát triển tươi tốt, nông dân mang giỏ thoăn thoắt thu hoạch.

Ít ai biết rằng, suốt nhiều thập kỷ trước, nơi đây gần như không có cơ hội phát triển nông nghiệp.

Từ trồng ngô, cải dầu đến "vựa rau" trên cao nguyên

Nằm ở rìa đông bắc cao nguyên Thanh Hải - Tây Tạng, khu vực này có mùa đông kéo dài, khí hậu lạnh và khô hạn khiến việc trồng trọt vô cùng khó khăn.

Bà Wang Cunying, 63 tuổi, nhớ lại: "Ngày trước chúng tôi chỉ có thể trồng những loại cây chịu hạn như ngô và cải dầu. Mỗi năm đều nơm nớp lo thời tiết. Thu nhập cả năm chỉ vài nghìn nhân dân tệ".

Để thoát khỏi cảnh khó khăn, người dân đã tự thành lập các hợp tác xã nông nghiệp. Sau đó, chính quyền địa phương cùng các doanh nghiệp nông nghiệp hỗ trợ đưa hàng loạt công nghệ mới vào sản xuất.

Các cánh đồng được phủ màng nilon giữ nhiệt, xây dựng nhà kính dạng vòm để bảo vệ cây trồng trước cái lạnh đầu xuân và cuối thu. Những giống rau có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn cũng được đưa vào canh tác nhằm kéo dài mùa vụ.

Nguồn phân chuồng từ các trang trại chăn nuôi được tận dụng làm phân hữu cơ, kết hợp với hệ thống tưới nhỏ giọt tích hợp nước và dinh dưỡng, giúp cây trồng phát triển đồng đều và tiết kiệm tài nguyên.

Điều từng là bất lợi lớn nhất – khí hậu lạnh – giờ lại trở thành lợi thế cạnh tranh.

Khí hậu lạnh tạo nên rau ngon hơn

Theo ông Li Hanlin, Bí thư thị trấn Jingyang, khu vực nằm ở độ cao khoảng 2.500 m so với mực nước biển, có biên độ nhiệt ngày - đêm lớn, nhiều nắng, nguồn nước sạch từ tuyết tan và đất đai gần như không bị ô nhiễm.

Nhờ điều kiện này, rau củ tích lũy nhiều chất khô hơn, có vị ngọt và giòn đặc trưng.

Đặc biệt, vào mùa hè khi các tỉnh phía nam Trung Quốc gặp nắng nóng làm giảm sản lượng rau, vùng cao nguyên Thanh Hải lại bước vào thời kỳ thu hoạch, tạo ra lợi thế lớn về nguồn cung trái vụ.

Khí hậu mát lạnh cũng giúp giảm đáng kể sâu bệnh, gần như không cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học.

Rau Thanh Hải bán tới Hong Kong trong 48 giờ

Nhờ chất lượng vượt trội, thương hiệu rau mùa lạnh của Thanh Hải nhanh chóng được thị trường đón nhận.

Năm ngoái, hợp tác xã tại địa phương ký hợp đồng cung cấp rau trong 5 năm cho một doanh nghiệp thực phẩm ở Hong Kong, mang về doanh thu khoảng 5,6 triệu nhân dân tệ (khoảng 824.000 USD).

Với hệ thống logistics hiện đại, rau sau khi thu hoạch chỉ mất khoảng 48 giờ để có mặt tại các chợ ở Hong Kong hoặc chưa đến 24 giờ nếu vận chuyển bằng đường hàng không.

Hiện làng Ganshuwan tiếp tục đầu tư kho lạnh và nhà máy chế biến nhằm phát triển các sản phẩm rau sấy khô, nguyên liệu lẩu và nhiều mặt hàng giá trị gia tăng khác.

Gia đình bà Wang hiện cho hợp tác xã thuê toàn bộ 10 mẫu đất (khoảng 0,67 ha), thu về khoảng 10.000 nhân dân tệ tiền thuê mỗi năm.

Ngoài ra, hai vợ chồng còn làm việc ngay tại hợp tác xã, từ thu hoạch đến đóng gói, kiếm thêm 20.000-30.000 nhân dân tệ mỗi năm.

Toàn huyện Datong hiện có khoảng 80.000 mẫu rau. Trên toàn tỉnh Thanh Hải đã hình thành 312 vùng sản xuất rau mùa lạnh, trong đó có nhiều vùng chuyên xuất khẩu sang Hong Kong.

Trong 5 tháng đầu năm nay, Thanh Hải xuất khẩu 2.872,6 tấn rau mùa lạnh, tăng 58,5% so với cùng kỳ năm trước.

Sa mạc Gobi hóa thành vùng trồng "siêu quả"

Cách đó khoảng 700 km về phía tây, thành phố Golmud từng nổi tiếng là vùng sa mạc Gobi khô cằn với gió cát và hạn hán triền miên.

Ông Zhou Xuefa nhớ lại thời còn trồng lúa và ngũ cốc: "Mỗi mẫu đất chỉ mang lại 400-800 nhân dân tệ. Tôi làm việc quanh năm giữa nắng gió nhưng cuộc sống chẳng khá lên".

Sau chuyến tham quan vùng trồng kỷ tử nổi tiếng ở Ninh Hạ, ông quyết định đánh cược toàn bộ số tiền tích góp để đưa giống kỷ tử "Goji Seedling No.1" về Golmud.

Kết quả vượt ngoài mong đợi.

Kỷ tử trồng tại Golmud có hương vị ngon hơn nhờ nằm ở độ cao 2.800 m, mỗi ngày có khoảng 10 giờ nắng, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm khoảng 12 độ C cùng nguồn nước sạch tự nhiên.

Những điều kiện này tạo ra quả kỷ tử to, căng mọng và chất lượng cao.

Để nâng cao giá trị sản phẩm, ông Zhou thường xuyên cắt tỉa cây vào mùa đông, chuyển sang các giống hữu cơ cho quả lớn và đỏ hơn.

Đến nay, trang trại của ông đã mở rộng lên 80 mẫu, mang lại doanh thu gần 1 triệu nhân dân tệ mỗi năm.

Chuỗi giá trị giúp nông dân tăng thu nhập

Hiện Golmud có hơn 4.100 hộ trồng kỷ tử.

Các cơ quan nông nghiệp và khí tượng địa phương thường xuyên hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn phòng trừ sâu bệnh và phát cảnh báo sớm về mưa lớn, bão cát nhằm giúp nông dân bảo vệ mùa màng.

Năm 2025, diện tích trồng kỷ tử tại Golmud đạt 105.300 mẫu, tăng 4,3% so với năm trước, sản lượng đạt 26.800 tấn, tăng 7,7%.

Một tập đoàn nông nghiệp tại Golmud hiện đã ký thỏa thuận thu mua kỷ tử với ba thị trấn lân cận, đồng thời đào tạo quy trình canh tác tiêu chuẩn cho người dân.

Mô hình này tạo việc làm trực tiếp cho hơn 1.000 lao động và mang lại lợi ích gián tiếp cho trên 10.000 người.

Doanh nghiệp cũng hợp tác với các viện nghiên cứu để đưa vào vận hành 10 dây chuyền sản xuất hiện đại, trong đó có công nghệ ép lạnh NFC, phát triển hơn 50 sản phẩm từ kỷ tử như nước ép, bột đông khô và thực phẩm dinh dưỡng.

Từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp đến sản xuất ứng dụng công nghệ cao, từ bán nông sản thô đến xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh, người nông dân Thanh Hải đang chứng kiến sự thay đổi ngoạn mục.

Như lời ông Li Hanlin: "Trước đây chúng tôi lo không bán được nông sản. Còn bây giờ, điều chúng tôi lo là... không trồng đủ để đáp ứng nhu cầu thị trường".