Không nên lấy "Made in Vietnam" để đong đếm lòng yêu nước

18/07/2019 13:47 GMT+7
Mọi người vẫn thường quen với việc ghi "Made in…" nhưng thực tế chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu đã rất đầy đủ cho phép doanh nghiệp sản xuất "Made in the world"

Bà Bùi Kim Thuỳ, Đại diện Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN

Chia sẻ tại Toạ đàm "Thế nào là Made in Vietnam", bà Bùi Kim Thuỳ, Đại diện Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN, cho biết, mọi người vẫn thường quen với việc ghi "Made in…" nhưng thực tế chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu đã rất đầy đủ cho phép doanh nghiệp sản xuất "Made in the world" vì vậy đừng lấy "Made in Vietnam" ra để đong đếm lòng yêu nước.

Theo bà Thuỳ, với bất kỳ một quy tắc xuất xứ nào thì để quy định công đoạn gia công trên lãnh thổ một quốc gia, một vùng thì hoàn toàn có thể ghi Made in… hay Assembled…tại nơi đó.

Tại Việt Nam vẫn đề cao tính tự nguyện trong việc ghi xuất xứ hàng hoá bởi nếu quản lý chặt nhiều ngành hàng chết hay lỏng lẻo thì rủi ro là có nhiều ngành. Quan điểm bà Thuỳ là có mặt hàng giá trị gia tăng ít nhưng doanh nghiệp có rất nhiều cơ hội để làm ra nhãn hiệu bán nhanh, nhiều, giá rẻ nên cần đặt ra quy tắc xuất xứ như thế nào đừng quá quan trọng có bao nhiêu nguyên liệu đến từ đâu mà cần nhớ công đoạn gia công cuối cùng là ở Việt Nam.

Theo bà Thuỳ, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), FTA Việt Nam - EU (EVFTA) đều quy định xuất xứ rất linh hoạt, gần như cho phép toàn bộ nguyên liệu có thể nhập ở bên ngoài, thậm chí cho nhập từ bất kỳ đâu với hàng điện tử, ôtô, máy móc, động cơ được kết nối từ hàng trăm linh kiện rời khác nhau, chỉ cần chứng minh mã HS đã được chuyển đổi.

Lấy một dẫn chứng về một sản phẩm điều của một doanh nghiệp trong nước, bà Thuỳ cho biết, chủ doanh nghiệp này đã lấy giống tốt nhất ở Bình Phước, đưa các nhà khoa học ở Việt Nam sang Thái Lan lấy giống tốt nhất ở đây ghép, đưa vào phòng thí nghiệm phối và sinh ra cây con, cây con tốt nhất trồng ở Campuchia. Khi thu hoạch điều, điều thô từ Campuchia sẽ được chuyển về nhà máy ở Bình Phước làm công đoạn rang, chế biến, bóc tách và phân loại điều to nhỏ, thành phẩm cuối cùng đang bán ở Việt Nam.

"Sảm phẩm này là sản phẩm gì? Công đoạn cuối cùng diễn ra ở Việt Nam là rang ở Bình Phước còn cây điều trồng ở Campuchia, giống bố mẹ ở phòng thí nghiệm Thái Lan, nhưng hàm lượng chất xám này nhiều và là của người Việt Nam, không thể lượng hoá được đối với sản phẩm này", bà Thuỳ nói.

Bà Thuỳ cho biết, Việt Nam hiện nay là quốc gia xuất khẩu điều nhưng 50% nhập khẩu từ châu Phi, cũng giống như Mỹ có thế mạnh trồng bông, Trung Quốc là công xưởng các sản phẩm linh kiện, điện tử giá rẻ.

Bà Trần Thị Thu Hương, Giám đốc Trung tâm xác nhận chứng từ thương mại (VCCI)

Trong khi đó, bà Trần Thị Thu Hương, Giám đốc Trung tâm xác nhận chứng từ thương mại (VCCI), cho biết chưa có khái niệm cụ thể thế nào là “Made in Vietnam” và dẫn chứng một số quy tắc dán nhãn “made in” tại một số quốc gia.

Bà Trần Thị Thu Hương cho biết: “Khái niệm made in gắn kết chặt chẽ với quy tắc xuất xứ của sản phẩm nhưng cũng được áp dụng khá linh hoạt. mỗi quốc gia đều có quy định riêng về từng mặt hàng cụ thể bắt buộc phải dán nhãn lên hàng hóa”

Tại thị trường Liên minh châu Âu (EU) yêu cầu dán nhãn xuất xứ lên thực phẩm và mỹ phẩm nhập khẩu. Hiện tại, không có bất kỳ quy định của EU liên quan đến dán nhãn “made in” cho hàng hóa không phải thực phẩm nhập khẩu vào EU.

Theo đó, nhà sản xuất và nhà nhập khẩu có quyền tự do dán nhãn thông tin xuất xứ lên hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, EU quy định bắt buộc phải khai báo nước xuất xứ của hàng hóa trên tờ khai hải quan nhập khẩu.

Trong khi đó, Trung Quốc và Nhật Bản yêu cầu bắt buộc phải dán nhãn lên thực phẩm nhập khẩu. Nga cũng có quy định riêng khi yêu cầu dán nhãn xuất xứ lên tất cả hàng hóa tiêu dùng.

Lấy dẫn chứng về sản phẩm Hộp Drona do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất đã được cấp C/O mẫu A cho xuất khẩu sang EU, bà Trần Thị Thu Hương chia sẻ: “Dù sản phẩm này đáp ứng được quy tắc xuất xứ tại Việt Nam, đáng lẽ phải dán nhãn Made in Vietnam nhưng bao bì vẫn dán nhãn Made in China theo yêu cầu của khách hàng.

Theo đó, căn cứ theo quy định của Mỹ, sản phẩm này được quy vào mã số HS 6307 nên được coi như là sản phẩm dệt may. Tuy nhiên, khách hàng Mỹ không yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam xuất trình giấy chứng nhận xuất xứ mà chỉ yêu cầu cung cấp nguồn gốc xuất xứ của nguyên liệu đầu vào. Họ nhận thấy sản phẩm vải mà công ty sử dụng có nguồn gốc xuất xứ tại Trung Quốc. Do đó, toàn bộ sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam nhưng vải không được sản xuất tại Việt Nam nên khách hàng yêu cầu dán nhãn Made in China”.

Bên cạnh đó, bà Hương cũng cho biết thêm rằng quy định xuất xứ tại các nước cũng có nhiều điểm riêng biệt nên không tránh khỏi những xung đột. Việc áp dụng các quy tắc xuất xứ đôi khi cũng được sử dụng để bảo vệ ngành công nghiệp trong nước.

Nhận định về tình trạng gian lận thương mại, hàng ngoại “đội lốt” hàng Việt Nam, bà Hương chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn cho thấy đã phát hiện nhiều doanh nghiệp chỉ thực hiện những công đoạn sản xuất đơn giản nên đã từ chối cấp giấy chứng nhận xuất xứ.

“Tình trạng gian lận thương mại giờ đã không còn như trước, doanh nghiệp đã sử dụng những phương thức tinh vi hơn, mua bán lòng vòng để việc truy suất nguồn gốc trở nên khó khăn hơn”, bà Hương nói,

Theo bà Hương, các cơ quan quản lý, đặc biệt là cơ quan Hải quan cần có những biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn.

P.V