Tháo gỡ thực trạng Bảo hiểm nông nghiệp thí điểm hơn 10 năm... vẫn mới
Nâng cao vai trò nhà nước
Theo Bộ Tài chính, qua thực tế triển khai, mặc dù có nhiều kinh nghiệm đã được rút ra sau giai đoạn thực hiện thí điểm (2011-2013), Bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) về cơ bản vẫn là sản phẩm mới, phức tạp không chỉ đối với bản thân người nông dân mà còn đối với đội ngũ cán bộ thực thi chính sách tại cơ sở.
Việc tổ chức thực hiện tại một số địa phương, cơ sở vẫn còn lúng túng. Bên cạnh đó, nhận thức của một số bộ phận người nông dân đối với BHNN vẫn còn hạn chế. Về phía doanh nghiệp bảo hiểm, BHNN là nghiệp vụ phức tạp, rủi ro cao xuất phát từ thực tế biến động khó lường của thiên tai, dịch bệnh.

Do đó, việc triển khai đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải có năng lực tài chính lớn, đội ngũ cán bộ có năng lực, kinh nghiệm và mạng lưới phân phối sản phẩm đủ rộng đảm bảo khả năng tiếp cận đến cơ sở (cấp thôn, xóm, hợp tác xã), có sự tham gia của nhà tái bảo hiểm quốc tế và với sự hỗ trợ kịp thời, phối hợp chặt chẽ của các cấp chính quyền tại cơ sở. Thực trạng này dẫn đến kết quả thực hiện BHNN chưa đạt hiệu quả cao.
Thực tế tham gia bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu là cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo; cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia còn ít.
Kinh nghiệm một số nước trên thế giới cho thấy, mức hỗ trợ của Nhà nước tương đương hoặc cao hơn (Mỹ hỗ trợ 69%, Canada 66%, Tây Ban Nha khoảng 50%, Nhật Bản 50%... Cùng đó là nhiều biện pháp hỗ trợ giúp BHNN có đóng góp rõ ràng hơn... Do đó, để thúc đẩy phát triển bảo hiểm nông nghiệp, Bộ Tài chính trình Chính phủ xem xét nâng mức hỗ trợ phí BHNN.
Giao địa phương chủ động đối tượng được bảo hiểm
Để thực hiện chính sách này sẽ phát sinh thêm trách nhiệm của UBND các tỉnh, thành phố trong việc chỉ đạo kiểm tra, giám sát cơ quan có thẩm quyền tại địa phương trong việc thẩm định, chi trả hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm nông nghiệp.
Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan tại địa phương trong việc giám sát thực hiện điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, kiểm soát gian lận bảo hiểm và công tác đề phòng, hạn chế tổn thất trong sản xuất... Do vậy, UBND các tỉnh, thành phố phải bố trí nguồn nhân lực để tổ chức triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm.

Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp là để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Qua đó góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội; tăng cường năng lực quản lý, giám sát rủi ro của người dân để hướng tới nền sản xuất nông nghiệp hiện đại. Do vậy, cần thiết phải huy động nguồn nhân lực của toàn xã hội để tổ chức thực hiện, trong đó có nguồn nhân lực của UBND các tỉnh, thành phố.
Thực tế quá trình triển khai một số chính sách hỗ trợ khác của nhà nước như chính sách bảo hiểm theo Nghị định số 58/2018/NĐ-CP, chính sách hỗ trợ bảo hiểm theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố cũng chủ động bố trí nguồn nhân lực để tổ chức thực hiện chính sách dưới hình thức kiêm nhiệm. Do vậy, đối với chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, Bộ Tài chính đề nghị UBND các tỉnh, thành phố bố trí nguồn nhân lực thực hiện kiêm nhiệm như các chính sách hỗ trợ nêu trên.
Về phạm vị địa bàn được hỗ trợ, Bộ Tài chính đề xuất địa phương căn cứ chiến lược và kế hoạch phát triển đặc thù, UBND cấp tỉnh có thể triển khai chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp trên toàn bộ địa bàn tỉnh hoặc trên một số địa bàn cấp xã. Điều này nhằm phù hợp với mô hình chính quyền 2 cấp và phân cấp, phân quyền.
Mức hỗ trợ phí Bảo hiểm nông nghiệp tối đa tới 95%
Nhằm tăng tính minh bạch, tránh tranh chấp trong quá trình giải quyết bồi thường BHNN, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung nội dung doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm việc xác định tổn thất thực tế trong trường hợp bảo hiểm quy định.
Cùng đó, quy định cụ thể về các nguồn cung cấp các chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám và trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình giao kết hợp đồng cùng được đề xuất bổ sung.
Về công tác giám định tổn thất; cơ quan, tổ chức giám định tổn thất; chi phí giám định tổn thất.. Bộ Tài chính kiến nghị trường hợp bảo hiểm theo chỉ số quy định, bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận cụ thể, bảo đảm bên mua bảo hiểm có thể chủ động tra cứu.
Trường hợp dữ liệu về các chỉ số không công khai trên trang thông tin điện tử của tổ chức cung cấp dữ liệu, doanh nghiệp bảo hiểm phải công khai thông tin trên trang thông tin điện tử, chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ và toàn vẹn của thông tin cung cấp, đồng thời phải bảo đảm bên mua bảo hiểm có thể tìm kiếm và tiếp cận được các dữ liệu trên trang thông tin điện tử đó.
Đáng chú ý nhất trong dự thảo để xuất được Bộ Tài chính đề cập là các quy định về mức hỗ trợ đối với phí BHNN, trong đó được Bộ Tài chính chia theo 4 mức từ 30% đến 95%.
Thứ nhất là cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, nhóm này sẽ được hỗ trợ tối đa 95% phí BHNN.
Với cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện cận hộ nghèo, phí BHNN được hỗ trợ sẽ ở mức tối đa 90%.
Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 50% phí BHNN.
Thứ tư, nhóm tổ chức sản xuất nông nghiệp được đề xuất hỗ trợ tối đa 30% phí BHNN. Đây là nhóm doanh nghiệp, Hợp tác xã có hợp đồng liên kết gắn với sản phẩm nông nghiệp là các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ BHNN. Có sản phẩm nông nghiệp là các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được chứng nhận đảm bảo chất lượng, ATTP.


















