Hai điều kiện trọng yếu để hồi sinh ngành du lịch của Việt Nam?

08/11/2021 17:50 GMT+7
Kể từ tháng 11/2021, Việt Nam mở cửa một số điểm đến du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường lao động và cán cân vãng lai. Tuy nhiên, phục hồi ngành du lịch thành công hay không sẽ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

Khối nghiên cứu của Ngân hàng HSBC vừa phát hành báo cáo "Vietnam At A Glance tháng 11/2021 - Ngành du lịch bắt đầu “rã đông”". Etime.danviet.vn xin trích đăng phần chính trong báo cáo này - ngành du lịch của Việt Nam.

Khi đợt bùng dịch chủng Delta dần lắng xuống nhờ tỷ lệ phủ vaccine ngày càng tăng, các nhà hoạch định chính sách ở ASEAN bắt đầu tự tin hơn vào khả năng nới lỏng hạn chế phòng dịch và mở cửa lại biên giới.

Du lịch vốn là trọng tâm ưu tiên của nhiều quốc gia trong ASEAN bởi ngành này có những tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế cũng như thị trường việc làm trong nước. Minh chứng có thể thấy rõ nhất ở các quốc gia như Singapore, Thái Lan và Việt Nam, nơi các lĩnh vực liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới du lịch (ví dụ như hàng không, lữ hành, lưu trú) đều đã chịu ảnh hưởng nặng nề do các biện pháp siết chặt biên giới để kiểm soát đại dịch.

Thời điểm trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát

Cơ hội để ngành du lịch Việt Nam phục hồi trong đại dịch Covid-19 - Ảnh 1.

Du lịch trở thành một trụ cột tăng trưởng quan trọng của Việt Nam trong nhiều năm qua. Ảnh: CEIC, HSBC

Ngành du lịch Việt Nam đã tăng trưởng vượt bậc trong nhiều năm gần đây nhờ nỗ lực cởi mở trong chính sách cấp thị thực của chính phủ. Lượng khách du lịch tới Việt Nam đã tăng kỷ lục lên đến trên 18 triệu lượt vào năm 2019, mang đến nguồn thu 33 tỷ USD, tương đương 12,5% GDP. Gần 80% khách du lịch đến từ châu Á, trong đó hai thị trường lớn là Trung Quốc và Hàn Quốc chiếm 56%. Cụ thể, chỉ riêng khách Trung Quốc đã chiếm tỷ lệ lớn nhất tương đương với 1/3 tổng lượt khách đến Việt Nam, tương đương với Thái Lan và vượt xa các quốc gia láng giềng trong khu vực vốn chỉ ở mức 15-20%.

Cơ hội để ngành du lịch Việt Nam phục hồi trong đại dịch Covid-19 - Ảnh 2.

Lượng khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam và Thái Lan đều chiếm tỷ lệ lớn. Ảnh: CEIC, HSBC

Du lịch - ngành "đứng mũi chịu sào" trong đại dịch Covid-19

Là ngành "đứng mũi chịu sào" trong đại dịch Covid-19, hoạt động du lịch đã gần như dừng hẳn. Việt Nam chỉ đón 3,8 triệu lượt khách vào năm 2020 và tổng lượng khách đến thời điểm hiện tại của năm 2021 còn chưa bằng 1% của năm 2019. Do thiếu vắng sự hiện diện của khách quốc tế nên các dịch vụ liên quan, đặc biệt là lưu trú, vận tải và ăn uống, đã không thể phục hồi đúng nghĩa. Du lịch nội địa đã gồng gánh ít nhiều trong những giai đoạn Việt Nam kiểm soát tốt tình hình lây lan của dịch bệnh nhưng rồi cũng chịu cảnh gián đoạn đột ngột khi đợt bùng dịch chủng Delta xuất hiện cuối quý 2. Dịch vụ lưu trú và ăn uống trong quý 3 sụt giảm hơn 50% so với cùng kỳ năm ngoái cho thấy ảnh hưởng nghiêm trọng của các đợt giãn cách kéo dài.

Cơ hội để ngành du lịch Việt Nam phục hồi trong đại dịch Covid-19 - Ảnh 3.

Một phần tư lực lượng lao động liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến du lịch. Ảnh: CEIC, HSBC

Bên cạnh đó, không quá ngạc nhiên khi thị trường lao động trở nên lao đao. Khoảng 10% lực lượng lao động của Việt Nam tập trung trong lĩnh vực dịch vụ lưu trú, vận tải và giải trí, đây là đều là những ngành liên quan mật thiết đến du lịch. Số liệu này thực tế chưa phản ánh hết bức tranh hiện thực vì có những hoạt động không được thống kê chính thống lại chiếm phần lớn tỷ trọng trên thị trường lao động của Việt Nam, trong đó phần nhiều là dịch vụ liên quan tới du lịch. Khi ngành du lịch rơi vào tình trạng ngưng trệ, khoảng 60% người lao động bị mất việc làm trong năm 2020, 90% đã nghỉ việc tính đến tháng 5/2021. Mặc dù chưa có số liệu thống kê chi tiết tác động lên ngành du lịch, dữ liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam cho thấy trên 2 triệu người lao động trong ngành dịch vụ rơi vào cảnh thất nghiệp trong quý 3, thu nhập bị giảm 15% so với quý trước.

Cơ hội để ngành du lịch Việt Nam phục hồi trong đại dịch Covid-19 - Ảnh 4.

Thặng dư tài khoản vãng lai thu hẹp do thâm hụt dịch vụ quá lớn. Nguồn: CEIC, HSBC

Thêm nữa, thặng dư tài khoản vãng lai của Việt Nam đang dần thu hẹp. Trước đây, Việt Nam từng trải qua giai đoạn thâm hụt dịch vụ khoảng 3 tỷ USD bình quân mỗi năm nhưng thâm hụt đã giảm một nửa xuống còn 1,5 tỷ USD vào năm 2019 nhờ đón một lượng khách du lịch cao kỷ lục. Tuy nhiên, với tình trạng du lịch ngưng trệ từ năm 2020, thâm hụt dịch vụ tăng cao càng khiến tài khoản vãng lai của Việt Nam dao động mạnh. Mặc dù tác động có vẻ chưa rõ nét trong năm 2020, ngay cả khi thâm hụt dịch vụ cao kỷ lục lên mức 10 tỷ USD thì thặng dư tài khoản vãng lai của Việt Nam vẫn ở mức rất tốt chiếm 5,5% tỷ trọng GDP trong năm, nguyên nhân sâu xa chủ yếu là nhờ xuất khẩu tăng trưởng vượt bậc trong khi nhập khẩu bị thu hẹp. 

Trong năm 2021, trong bối cảnh xuất khẩu chững lại trong quý 3 và nhập khẩu phục hồi nhờ hiệu ứng cơ sở thấp, thặng dư thương mại thu hẹp nhiều khả năng sẽ không đủ bù đắp cho những thâm hụt trong dịch vụ và thu nhập thứ cấp. Mặc dù chúng ta vẫn kỳ vọng nhìn thấy thặng dư thương mại trong năm 2021, thực tế cho thấy khả năng cao tài khoản vãng lai sẽ bị thâm hụt nhẹ ở mức 1,1% GDP. Điều đó sẽ tác động trực tiếp lên đồng tiền của Việt Nam, tài khoản vãng lai thiếu hụt tạo áp lực xuống giá của đồng VND. Tác động sẽ hiện hữu rõ nét hơn trong năm 2022 khi đồng VND bị suy yếu thêm.

Tương lai của ngành du lịch Việt Nam trong thời gian tới     

Từ tháng 3/2020, Việt Nam đã đóng cửa phần lớn biên giới, chỉ xem xét nhập cảnh cho công dân Việt Nam hồi hương, người nhập cảnh với mục đích ngoại giao, nhà đầu tư nước ngoài và chuyên gia kèm yêu cầu cách ly cụ thể. Từ quý 3 năm 2021, nước ta bắt đầu nới lỏng các hạn chế ở biên giới khi số ca mắc mới trong ngày trở nên ổn định, nhưng vẫn còn khá thận trọng nên chưa mở cửa ồ ạt. Từ tháng 8, Việt Nam đã giảm một nửa yêu cầu về thời hạn cách ly tập trung từ 14 xuống còn 7 ngày đối với người nhập cảnh đã tiêm phòng đầy đủ. Tuy nhiên, Việt Nam đã không đi theo lộ trình của Thái Lan là mở cửa toàn bộ đất nước với 63 quốc gia có nguy cơ thấp từ 1/11. Trái lại, Việt Nam sẽ chỉ mở cửa 5 địa điểm thu hút du lịch là đảo Phú Quốc, Đà Nẵng, Quảng Nam (nơi có phố cổ Hội An), Khánh Hòa (có thành phố biển Nha Trang) và Quảng Ninh (có Vịnh Hạ Long) từ tháng 11. Đây là một phần trong kế hoạch hồi sinh ngành du lịch của Việt Nam. Trong đó, đảo Phú Quốc được chọn làm nơi thí điểm mở cửa từ 20/11 đón du khách đã tiêm phòng đầy đủ thông qua các chuyến bay thuê bao chuyến (charter flight). Trong năm 2019, hòn đảo này đã từng thu hút 670.000 khách du lịch mang lại nguồn thu 18 tỷ USD. Giai đoạn tháng 12/2021 đến tháng 3/2022, Phú Quốc dự kiến sẽ đón 5.000 lượt khách (theo Straits Times, 23/10).

Trong giai đoạn 2, du khách sẽ được tự do đi lại tại 5 địa phương này từ tháng 1/2022, nghĩa là giai đoạn 1 sẽ chỉ mở cửa phục vụ trong phạm vi, địa điểm hạn chế. Giai đoạn cuối cùng sẽ là mở cửa toàn bộ du lịch tuy nhiên các cơ quan chức năng đã bác bỏ thông tin về thời điểm mở cửa hoàn toàn từ tháng 6/2022 với lý do cần thận trọng theo dõi tiến độ tiêm vaccine cũng như đánh giá tình hình kiểm soát dịch bệnh. Mặc dù Việt Nam đang từng bước tiến tới mục tiêu mở cửa trở lại cho thấy dấu hiệu đáng mừng, tuy nhiên, nhiều tình huống khó lường thường xảy ra trong giai đoạn dịch bệnh và để hồi sinh thành công ngành du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

Cơ hội để ngành du lịch Việt Nam phục hồi trong đại dịch Covid-19 - Ảnh 7.

Số ca mắc Covid-19 đang có dấu hiệu tăng trở lại. Ảnh: Bloomberg, HSBC

Yếu tố đầu tiên cần cân nhắc là những yêu cầu về nhập cảnh. Điều này đồng nghĩa với việc không chỉ cần xem xét nới lỏng hạn chế biên giới ở phía Việt Nam mà những kiểm soát biên giới của các quốc gia khác cũng quan trọng không kém. Ví dụ, việc thiếu vắng khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam cho thấy kỳ vọng tăng trưởng ngắn hạn sẽ còn hạn chế vì Trung Quốc đại lục vẫn siết chặt các biện pháp kiểm soát biên giới với yêu cầu cách ly 14 ngày tại khách sạn, cộng thêm một số ngày tự cách ly/theo dõi sức khỏe tại nhà tùy từng địa phương.

Trong khi đó, tình hình diễn biến dịch bệnh cũng vô cùng quan trọng. Mặc dù số ca nhiễm mới trong ngày của Việt Nam đã giảm đáng kể 70% so với đỉnh dịch 170.000 ca/ngày thời điểm giữa tháng 8, số ca nhiễm mới lại đang có dấu hiệu tăng trở lại. Tính trung bình 7 ngày, số ca nhiễm mới trong ngày gần đây đã tăng lên khoảng 5.000 ca, tốc độ tăng khá nhanh 50% so với 2 tuần trước. Mặc dù các ca mắc mới vẫn tập trung ở Đông Nam Bộ (như Đồng Nai, Bình Dương và TP. HCM), khu vực không nằm trong chương trình thí điểm du lịch, những rủi ro dai dẳng do Covid-19 có thể tạo tâm lý e ngại cho cả khách du lịch lẫn chính quyền địa phương.

Cơ hội để ngành du lịch Việt Nam phục hồi trong đại dịch Covid-19 - Ảnh 8.

Tỷ lệ tiêm phòng ở các điểm đến du lịch cao hơn so với cả nước. Ảnh: VNE; HSBC

Trên thực tế, Việt Nam đã tăng tốc tiến độ tiêm phòng từ quý 3 năm nay, ưu tiên các điểm đến du lịch và cụm công nghiệp. Toàn bộ các điểm đến du lịch, ngoại trừ Quảng Nam và Đà Nẵng, đều đã tiêm phòng cho ít nhất 80% người dân. Dù vậy, Việt Nam cần tính toán kỹ phương án hỗ trợ đi lại giữa các địa phương này cũng như trên cả nước trong khi vẫn phải hạn chế rủi ro tiềm tàng do virus.

Thêm nữa, Việt Nam cũng cần nỗ lực nối lại các chuyến bay quốc tế để thúc đẩy du lịch. Kể từ đầu mùa dịch, nhiều chuyến bay đã bị hủy và ngay cả khi các quy định giãn cách gần đây cũng dần được gỡ bỏ thì ngành hàng không vẫn phải mất một thời gian nữa mới lấy lại phong độ như thời trước đại dịch. Tuần trước nữa, TP. HCM đã đón 32 chuyến bay từ Trung Quốc và 21 chuyến từ Hàn Quốc, cũng chỉ bằng 20% của tháng 12/2019. Mặc dù vậy, trong cái rủi vẫn có cái may đó là Việt Nam đã nhanh chóng chấp nhận "giấy chứng nhận vaccine" của 72 nước và phát triển đường bay mới để thu hút nguồn khách du lịch mới. Từ tháng 11, Vietnam Airlines bắt đầu khai thác đường bay thẳng thương mại thường lệ đến Mỹ, trong khi Bamboo Airways sẽ đưa vào khai thác các chuyến bay thẳng tới Anh từ tháng 1/2022. Bộ Giao thông Vận tải cũng đang lên kế hoạch mở lại các đường bay quốc tế.

Lê Phương (HSBC)