Phá "cục máu đông" 1.000 dự án, giải vây cho lãi suất
“Làn gió ngược” và hành động của Việt Nam
Tại Hội thảo “Động lực cho tăng trưởng kinh tế hai con số và triển vọng nông nghiệp 2026” do Báo Nông thôn Ngày nay vừa tổ chức tại Hà Nội, nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp đã nêu bật những cơ hội, phân tích các bài học kinh nghiệm, thách thức để Việt Nam kiên trì, quyết tâm tăng trưởng cao trước hàng loạt thách thức thời cuộc.
Tăng trưởng cao là bài toán tổng hợp, ở đó mô hình tăng trưởng cần dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, phân bổ nguồn lực và năng lực chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Đặc biệt, trong bối cảnh thế giới đang biến động mạnh, câu hỏi đặt ra là Việt Nam sẽ dựa vào đâu để tăng trưởng nhanh hơn, và làm thế nào để không đánh đổi ổn định vĩ mô trong quá trình đó?
TS Võ Trí Thành - thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, cho rằng: Bất chấp những rủi ro từ bên ngoài và thách thức lớn từ việc chuyển đổi nền kinh tế của mình còn chậm, Việt Nam vẫn kiên định với mục tiêu tăng trưởng cao bởi chúng ta biết không thể dừng lại, phát triển đủng đỉnh, trong khi thế giới vận hành nhanh chóng. Việt Nam không thể để cơ hội trượt khỏi tay và không thể mãi dùng dình được.

Vị chuyên gia phân tích, Việt Nam kiên định tăng trưởng cao là dựa trên hai cơ sở vững chắc. Thứ nhất là “Khát vọng”. Giống như khát vọng giành độc lập, xóa đói nghèo của năm 1945, khát vọng vươn lên trở thành quốc gia thu nhập cao là động lực cốt lõi để nền kinh tế bứt phá. Thứ hai là “Thiên thời”, trong đó có cơ hội lớn nhất hiện nay không đến từ bên ngoài mà nằm ở chính Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0.
Lần đầu tiên, Việt Nam có cơ hội làm chủ công nghệ thay vì chỉ đi sau. Hơn nữa, nguồn lực con người Việt Nam linh hoạt, khả năng thích ứng cao và tư duy toán học tốt - những nền tảng then chốt để làm chủ công nghệ và quản trị hiện đại.
Tuy nhiên, chúng ta cần nhận diện thách thức, được coi là những “cơn gió ngược” khó lường như: Rủi ro phân mảnh thương mại, chính sách thuế quan khắt khe từ các thị trường lớn (Mỹ và hơn 100 quốc gia khác). Cùng với đó, xung đột tại Trung Đông có thể đẩy lạm phát vượt khỏi tầm kiểm soát, tạo áp lực cực lớn lên tỷ giá và lãi suất trong năm nay.
Theo ông Thành, Việt Nam cần tập trung vào 4 nhóm chính sách cốt lõi: Chủ động và linh hoạt trong ngoại giao kinh tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến năng lượng (giá dầu) và định vị lợi thế trước các nhà đầu tư quốc tế. Ưu tiên hàng đầu cho việc quản trị rủi ro, kiểm soát lạm phát, tỷ giá và mặt bằng lãi suất. Triển khai các gói kích cầu, trợ lực kịp thời để cộng đồng doanh nghiệp phục hồi sản xuất. Cuối cùng đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền tảng pháp lý đồng bộ (đặc biệt là các nghị quyết mới về FDI) để tạo môi trường kinh doanh minh bạch.
Vị chuyên gia khẳng định, dù thách thức bủa vây, nền kinh tế vẫn có những dư địa lớn nếu biết cách khơi thông, trong đó có việc thực thi chính sách để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân đang rất lớn, trong khi tổng đầu tư toàn xã hội lại thấp. Cùng với đó, giải phóng các dự án “đắp chiếu” - những “cục máu đông” ở 800 - 1.000 dự án lớn đang bị đình trệ, nhằm bơm hàng trăm nghìn tỷ đồng vào nền kinh tế, tạo ra cú hích tăng trưởng mạnh mẽ trong ngắn hạn.
Theo TS Võ Trí Thành, nền kinh tế Việt Nam đã bước qua giai đoạn được gọi là “bình thường mới” – một khái niệm vốn mang tính xoa dịu tâm lý trong khủng hoảng. Giờ đây, tâm thế và nguồn lực của quốc gia cần được định vị rõ ràng ở một giai đoạn mang tính hành động cao hơn: Giai đoạn phục hồi và phát triển.
Đánh giá về các kịch bản tăng trưởng kinh tế hiện nay, TS Thành cho rằng việc đặt ra các mốc “thấp, trung bình, cao” dường như chưa phản ánh đúng mức độ thách thức. Thực tế, ngay cả ở kịch bản “thấp” nhất là mức tăng trưởng 8% cũng đã là một mục tiêu rất cao trong bối cảnh toàn cầu hiện nay.
TS Thành nói, chúng ta không chỉ dừng lại ở những con số tăng trưởng cơ học mà đòi hỏi sự bền vững, bao trùm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đặc biệt là năng lực chống chịu. Chính vì thế, tăng trưởng phải thực chất, phải đổi mới, tìm kiếm động lực mới.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc duy trì tăng trưởng nóng trong nhiều năm liên tục dễ làm nảy sinh các rủi ro vĩ mô, bất bình đẳng xã hội và các vấn đề môi trường. Hơn nữa, trên thực tế, thu hút vốn đầu tư thường dễ thực hiện hơn nhiều so với việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo thực chất - vốn là một thách thức lớn khi các doanh nghiệp khó tiếp cận công nghệ lõi tiên tiến.

Cùng quan điểm, TS Cấn Văn Lực - chuyên gia tài chính – ngân hàng, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách, khẳng định tăng trưởng cao không phải là câu chuyện ngắn hạn mà là chuyện dài hạn, chuyện chuyển đổi, cải tổ lại nguồn lực, là câu chuyện phát triển vào chuỗi giá trị toàn cầu... Ông đề nghị để có tăng trưởng cao, cần sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIV vào thực tiễn.
Bên cạnh đó, cần kiên định ổn định kinh tế vĩ mô, với các yếu tố trọng tâm như giữ lạm phát, tỷ giá, an ninh năng lượng, thị trường tài chính và bất động sản. Ổn định mặt bằng lãi suất là điều kiện rất quan trọng để đạt tăng trưởng cao. Và cuối cùng là nâng cao chất lượng tăng trưởng, đặc biệt thông qua năng suất và hệ số ICOR (hệ số sử dụng vốn đầu tư).
Không có khoa học công nghệ, không có tăng trưởng bền vững
Dưới góc độ người làm về khoa học và công nghệ, PGS - TS Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Công nghệ tài chính, Trường Đại học Đại Nam, nhấn mạnh: “Khoa học kỹ thuật, công nghệ và đặc biệt là công nghệ 4.0 cho chúng ta cơ hội lớn, là động lực quan trọng cho tăng trưởng bền vững mà Bộ Chính trị đã xác định”.
Ông Đức cho rằng, thông thường người ta hay nhắc đến vốn, nguồn lực từ các nhân tố tổng hợp giúp tăng trưởng cao, nhưng khoa học công nghệ mới là động lực bền vững, lâu dài đảm bảo cho năng lực cạnh tranh động của một quốc gia. Ông Đức lấy ví dụ, Trung Quốc vài năm trở lại đây nếu không có khoa học công nghệ, chắc chắn nước này không thể nhanh chóng trở thành đối thủ đáng gờm với Mỹ và EU.
Ông Đức khẳng định, muốn có động lực tăng trưởng kinh tế mới cần dựa vào khoa học và công nghệ, và để chỉ số năng suất tổng hợp (TFP) đóng góp nhiều trong chất lượng tăng trưởng, cần chú trọng đào tạo nhân lực nói chung và nhân lực khoa học công nghệ nói riêng. Ông khuyến nghị nên ưu tiên, đặt khoa học công nghệ vào thực chất, ưu tiên đúng chỗ bởi đào tạo về khoa học, công nghệ mang tính đồng bộ, hệ thống, không phải học quảng cáo 3 tháng, 4 tháng học về data analytics (phân tích dữ liệu), học ứng dụng AI.
Ông Nguyễn Quốc Hùng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam nhìn nhận: Để nền kinh tế đạt được mức tăng trưởng GDP hai chữ số, ba trụ cột chính cần được kích hoạt: Nông lâm nghiệp xuất khẩu; Công nghiệp - Xây dựng; và Tiêu dùng. Riêng nhóm ngành công nghiệp và xây dựng (vốn đóng góp 9 - 10% GDP cả nước) phải gánh vác mục tiêu tăng trưởng lên tới 12% trong năm 2026. Tuy nhiên, bức tranh thực tế đang đặt các doanh nghiệp trong ngành vào lằn ranh của sự “sinh tồn” hơn là phát triển.
Theo ông Hùng, tăng trưởng kinh tế của chúng ta vẫn dựa chủ yếu vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng và vốn đầu tư công, nhưng có một nghịch lý là dư nợ tín dụng tăng khoảng 19% nhưng tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt mức 8%. Ông nhấn mạnh, thị trường vốn (kênh chứng khoán, trái phiếu) dù đã hình thành và phát triển hàng chục năm nhưng vẫn chưa bền vững, chưa tạo đủ niềm tin để nhà đầu tư tham gia sâu rộng, dẫn vốn, kênh huy động vốn vì thiếu chính sách, thiếu nền tảng dẫn đến việc chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của nền kinh tế.















