Vi phạm đất đai: Mức phạt 1 tỷ đồng chưa đủ sức răn đe

10/02/2020 12:35 GMT+7
Đây là nhận định của Hiệp hội Bất động sản TP. HCM (HoREA) đối với các hành vi chuyển nhượng đất nền trái phép hoặc chậm làm thủ tục để cấp “sổ đỏ” cho khách hàng.

Ngày 5/1/2020, Nghị định 91/2019/NĐ-CP "Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai" của Chính phủ ban hành ngày 19/11/2019 (thay thế Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014) đã chính thức có hiệu lực.

Nhận xét về Nghị định này, HoREA cho hay, các quy định của Nghị định 91/2019/NĐ-CP vừa xử lý khá nghiêm khắc các vi phạm để góp phần lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực đất đai, vừa có lý có tình, vừa thống nhất với Nghị định 139/2017/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng, phát triển nhà ở, kinh doanh bất động sản… Bên cạnh các hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung, còn quy định 17 biện pháp khắc phục hậu quả.

Vi phạm đất đai: Mức phạt 1 tỷ đồng chưa đủ sức răn đe  - Ảnh 1.

Ngày 5/1/2020, Nghị định 91/2019/NĐ-CP "Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai" của Chính phủ ban hành ngày 19/11/2019 đã chính thức có hiệu lực.

Tuy nhiên, Hiệp hội nhận thấy mức phạt tiền tối đa chỉ đến 1 tỷ đồng, chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn các hành vi chuyển nhượng đất nền trái phép hoặc chậm làm thủ tục để cấp "sổ đỏ" cho khách hàng.

Ngoài ra, quy định xử phạt hành chính đối với hành vi "chiếm đất" tại Khoản (2.d) Điều 3 và Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP đã có các bất cập. Việc giải thích hành vi "chiếm đất" chưa phù hợp với quy định tại Khoản (1.b) Điều 169 và Khoản 2 Điều 191 Luật Đất đai 2013 cho phép "tổ chức kinh tế" được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trong trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Do vậy, doanh nghiệp cần phải được quyền sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng.

Đồng thời các giải thích cũng chưa phù hợp với với Khoản (1.a) Điều 60 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định "Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả đối với trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai" (Khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai quy định: UBND cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức).

Do vậy, khi chủ đầu tư dự án nhà ở đã nộp hồ sơ xin được giao đất và đã được Sở Tài nguyên Môi trường cấp biên nhận hồ sơ, thì doanh nghiệp đã hoàn thành trách nhiệm của mình. Việc UBND cấp tỉnh chậm ban hành Quyết định giao đất, cho thuê đất không phải lỗi của doanh nghiệp.

Ngoài ra, Hiệp hội cho rằng cũng chưa phù hợp với Điều 107 Luật Xây dựng quy định điều kiện khởi công xây dựng công trình.

Theo HoREA, trước đây, việc giải thích hành vi "chiếm đất" tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 102/2014/NĐ-CP trong trường hợp cá nhân, tổ chức "sử dụng đất khi chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai", thì cách giải thích hành vi "chiếm đất" theo Nghị định 102/2014/NĐ-CP hợp lý hơn.

Nghị định 102/2014/NĐ-CP chỉ xác định hành vi "chiếm đất" khi sử dụng đất mà chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất, còn trong trường hợp chủ đầu tư đã hoàn thành thủ tục và đã được cơ quan có thẩm quyền cấp biên nhận hồ sơ xin được giao đất, cho thuê đất thì chủ đầu tư sử dụng đất trên thực địa không bị coi là đã có hành vi "chiếm đất".

Về quy định xử phạt hành chính đối với hành vi lấn, chiếm đất tại khu vực đô thị và biện pháp khắc phục hậu quả cũng được xem là có điểm bất cập.

Từ đó, Hiệp hội đề nghị Chính phủ và Bộ Tài nguyên Môi trường xem xét, hướng dẫn thực hiện Khoản (2.d) Điều 3 và Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử lý hành chính đối với hành vi "chiếm đất" một cách có lý có tình và phù hợp với thực tiễn hoạt động của các dự án bất động sản, nhất là các dự án nhà ở thương mại có quỹ đất hỗn hợp, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư triển khai thực hiện dự án.

Phương Thảo